Lúc này, ai viết Lời hịch giữ yên Tổ quốc?

Nam quốc sơn hà Nam Đế cư
Bùi Văn Bồng
-
Mới đây, nhân trong tiệc trà tọa đàm nhỏ về Biểu tình chống sự xâm lấn của Trung Quốc, bảo vệ chủ quyền biển-đảo, một người đồng đội, nay là tướng về hưu ở T.p Hồ Chí Minh, tâm sự: “Trước sự hung hăng, ngang ngược của Trung Quốc lấn chiếm Biển Đông, càng thương đất nước mảnh khảnh, nhỏ hẹp của ta. Ngẫm lại mọi sự, đúng là Việt Nam ta từ thời Hùng Vương dựng nước cho dến nay, ít khi có được hòa bình thực sự và bền vững. Bài học ngàn xưa cho thấy, với bản chất bành trướng từ đế quốc Đại Hán, Trung Quốc chỉ có lăm le xâm lăng mở rộng biên cương, đi  thôn tính thiên hạ.
Với một lịch sử như thế có thể tin được rằng Trung Quốc thật lòng đoàn kết, hữu nghị, thân thiện được với chúng ta được chăng? Nước mình, mình phải lo mà giữ. Giữ vững được là cho chính mình. Phải chủ động tự bảo vệ Tổ quốc mình thôi. Vì thế, nếu như sai lầm lớn và vẫn tin mong chờ Trung Quốc làm theo phương châm "16 chữ vàng", tinh thần quan hệ "4 tốt" thì thật là ảo tưởng ! Nếu vẫn cứ tin vào lời hứa của Trung Quốc, mà giữ thái độ nhân nhượng, nhún nhường, nhịn nhục, thỏa hiệp chỉ tổ rước hậu họa về sau mà thôi”.

Ngừng một lát, đưa tay vuốt ngược mớ tóc bạc trên trán hói, ông hỏi tôi: “Theo ông, Bộ Chính trị có cần phải ra lời hịch, lời kêu gọi, hay văn bản gì đấy, đại loại là kêu gọi toàn quân, toàn dân vững vàng ý chí, huy động sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc để giữ vững nền độc lập-tự do, giữ vững chủ quyền, kiên quyết chống “giặc Tàu” thời hiện đại này hay không?”.
         
Nghe tâm sự của người đồng đội, tôi càng nghĩ càng thấy đúng. Càng thương cho đất nước gồng mình chịu đựng gian nan, hiểm nguy, nghèo đói hết đời này đến đời khác, không bao giờ thoát được họa xâm lăng. Lời tâm sự của vị tướng về hưu có hai điểm làm tôi ngẫm nghĩ nhiều.
         
Đúng thế, nước Việt Nam ta từ xa xưa cho đến tháng 7-2012 này coi như vẫn chưa  có hòa bình thực sự. Tuy giành được độc lập, thống nhất đất nước đã 37 năm rồi, nhưng nền hòa bình, độc lập quý báu đó vẫn rất bấp

bênh. Nhìn từ thời Hùng Vương, vua Hùng đã dựng Cột đá thề để chống giặc phương Bắc. Các tướng sĩ phải làm lễ thề ngay tại cột đá, để vững chí sắt đá mà chống giặc ngoại xâm giữ nước Âu Lạc. Cho đến cả mấy nghìn năm sau vẫn chưa yên bóng thù, rồi nghìn năm Bắc thuộc, từ Đinh, Lê (tiền), Lý, Trần, Lê (hậu) lo đánh giặc cả Nguyên Mông và Đại Hán. Rồi đánh Pháp, đánh Mỹ. Nay lại phải đối phó với hiểm họa xâm lăng mới.

Thực chất, với TQ thì xưa nay ai chẳng thấy máu bành trướng cứ dâng lên phừng phừng, không có độ dừng. Từ nghìn xưa, tuy đất rộng, người đông không nước nào sánh bằng, nhưng TQ vẫn còn lấn chỗ này một chút đường biên, chen chỗ kia chút biển, nhòm ngó đảo này đảo kia của nước láng giềng.

Nhìn lại, ý đồ bành trướng có quy mô, có tầm chiến lược ghê gớm nhất của TQ là từ những năm cuối thập niên 60 của thế kỷ trước. Khi ấy, đánh hơi thấy khả năng VN sắp giành được chiến thắng giặc Mỹ, sẽ giải phóng được miền Nam, thống nhất đất nước, TQ đã sắp sẵn ý đồ đã có từ lâu hòng thế chân Mỹ thôn tính Đông Dương. Đối với TQ, không riêng Việt Nam mà cả bán đảo 3 nước Đông Dương nằm ở một vị trí chiến lược, là cửa ngõ phía Nam nằm trong tầm ngắm của họ từ lâu, như một “nhiệm vụ” truyền đời, là miếng mồi ngon thèm thuồng, lăm le cả nghìn năm chưa dễ nuốt. Nhiều đời, ngoài giặc Nguyên Mông hùng mạnh mà người Hán ở Trung Nguyên chịu lép vế, khi đụng đến Việt Nam phải chịu thua đau, thì bên đế quốc Đại Hán, từ giặc Ân, giặc Tống, giặc Minh đến giặc Thanh đều không “bình định”, chinh phục nổi Việt Nam, thậm chí nhiều nơi đã cắm quan người Tàu cai trị đến tận quận, phủ, nhưng rồi cũng bị người Việt Nam đánh cho tơi tả, ôm đầu máu chạy về cố quốc.

Thực ra, nếu theo dõi lịch sử quan hệ giữa hai nước từ mấy nghìn năm, chúng ta hiểu rất rõ là Trung Quốc muốn chiếm đoạt VN từ lâu rồi, nhưng khi quân Minh bị tan tác, đến đời nhà Thanh thua trận Ngọc Hồi-Đống Đa, đang hằm hè phục thù bởi vì TQ vẫn không hề từ bỏ ý đồ xâm lược, thôn tính VN đất nước chúng ta. Nhưng từ cuối thế kỷ 19, tình thế trong nước và khu vực có nhiều chính biến, thực dân Anh và phát xít Nhật cùng chiếm Trung Quốc, nhà Thanh bị diệt vong, VN bị Pháp xâm lược, rồi sau 1954 lại bị Mỹ can thiệp, Mỹ xâm lược, TQ có muốn đánh chiếm VN cũng phải đành chờ thời cơ.  Thật là “miếng ngon mất đi sầu bi phát khùng”.

Từ những năm 60 của thế kỷ trước, tuy quan hệ hai nước từng được ca ngợi như trong bài hát “mối tình hữu nghị sáng như vầng dương, chung một ý, chung một lòng” (bài hát Việt Nam-Trung Hoa), nhưng Trung Quốc vẫn cái lối chơi kẻ cả, trịch thượng, không ngừng chèn ép VN đang bị đế quốc Mỹ xâm lược. Ai đã từng chứng kiến và theo dõi thời cuộc vào cuối những năm 60, đầu thập niên 70 của thế kỷ trước đều biết rất rành rẽ ngọn nguồn về những khó khăn trong giải quyết mối quan hệ "môi hở răng lạnh" với nước láng giềng “núi liền núi, sông liền sông” này.

Thời đó, cả hai nước lớn trong phe XHCN là Liên Xô và Trung Quốc đều ủng hộ Việt Nam đánh Mỹ. Liên Xô ủng hộ bởi muốn giữ vững và mở rộng thành trì CNXH ở khu vực Đông Nam Á. Còn Trung Quốc, với sự tiếp nhận chủ nghĩa Mác nửa vời và giả hiệu để dựa thế Liên Xô, ý thức về CNXH chỉ là sự ngụy trang,  chủ yếu ủng hộ VN là muốn đánh bật Mỹ ra khỏi Đông Dương. Miền Bắc XHCN thời kỳ đó là tấm lá chắn yên lành cho Trung Quốc trước thế mạnh của Mỹ. Trung Quốc rất sợ suốt dọc biên giới với Việt Nam và Lào có quân Mỹ trú đóng, nên dù trong thâm tâm không muốn đi nữa  thì Trung Quốc cực chẳng đã phải giúp VN đánh Mỹ để được yên lành. “Giúp bạn là tự giúp mình” – khẩu hiệu hành động giúp VN của TQ là vậy.
Vì thế, xét động cơ chủ đích của TQ giúp VN là coi như tự giúp mình, tự chủ động “giữ yên cho mình”, nếu như không giúp VN đánh Mỹ, để cho đế quốc đầu sỏ đầy sức mạnh này mà chiếm được cả VN thì TQ sẽ bị đặt trong sự đe dọa trực tiếp nguy to ngay tại biên giới Việt-Trung và vùng biển Nam đảo Hải Nam.

Nếu như để cho Mỹ chiếm được cả nước Việt Nam, ngay sát nách Trung Quốc thì coi như “thượng phong tiêu thế, đại kế tiềm vong” (cái thế thượng phong bị triệt hãm, mưu lớn bị mất). Thế nên, thời đó cả Liên Xô và Trung Quốc đều “nhiệt tình” dồn sức ủng hộ VN, muốn Mỹ phải cuốn gói nhanh khỏi VN. Cũng là giúp VN đánh Mỹ, nhưng Liên Xô giúp trang bị vũ khí tối tân, hiện đại, chuyển giao kỹ thuật sử dụng và tác chiến hiện đại kể cả tên lửa, máy bay phản lực, xe tăng. Còn Trung Quốc chỉ giúp một số vũ khí bộ binh nhẹ, quân trang (quần áo Tô Châu, mũ cối, giày dép, lương khô, bi đông đựng nước uống...).

Nhìn lại, suốt 61 năm  Pháp đô hộ Việt Nam, trước uy lực của các nước thực dân, đế quốc hùng mạnh, Trung Quốc không dám đụng gì đến Biển Đông, cho dù rất muốn, nhưng vẫn phải im lặng trong cay cú và tiếc nuối, cố gằng chờ thời. Năm 1945 Việt Nam tuyên bố độc lập, Pháp rút, năm 1946 quân Tàu Tưởng liền tranh thủ cơ hội chiếm một số đảo nhỏ ở Hoàng Sa và hòn đảo lớn Ba Bình thuộc Trường Sa. Không để đất nước mới độc lập rơi vào tay quân Tàu Tưởng khi đã thấy rõ dã tâm và hành động của chúng, Bác Hồ đã buộc phải thỏa hiệp ký Hiệp định sơ bộ 6-3-1946, để Pháp dẹp Tàu Tưởng.

Trung Quốc định tiếp tục thừa cơ đánh chiếm cả quần đảo Hoàng Sa thì Pháp quay lại xâm lược VN lần thứ hai. Khi phải đành lòng co chiếc “vòi bạch tuộc” không dám ho hoe đụng đến Biển Đông suốt 9 năm, đến năm 1954 VN chiến thắng Điện Biên Phú. Năm 1955 Pháp vừa rút, lập tức năm 1956 Trung Quốc cho quân ra chiếm một số đảo phía Đông Hoàng Sa. Mỹ lại nhảy vào VN, Trung Quốc không thể ra quân đánh chiếm Hoàng Sa đang do quân đội chính quyền Sài gòn chiếm giữ , đâu dám tuyên bố, tranh chấp gì ? Năm 1973, theo Hiệp định Pa-ri, Mỹ vừa rút tháng 1-1973, lập tức ngày 19-1-1974, sau khi Mỹ đã thỏa hiệp việc bình  thường hóa quan hệ Mỹ-Trung qua chuyến thăm Bắc Kinh của Tổng Thống R.Nixon vào tháng 2/1972 , biết rõ Hoa Kỳ chắc chắn sẽ không quay lại can thiệp vào Đông Dương, quân Sài Gòn đang suy yếu , miền bắc đang dồn sức giải phóng miền Nam, Trung Quốc liền tung lực lượng ra chiếm gọn quần đảo Hoàng Sa vào ngày 19-1- 1974.

Mặt khác, cũng ngay sau Mỹ rút vào đầu năm 1973, Trung Quốc chiêu tập, nuôi dưỡng, huấn luyện các thủ lĩnh Khmer Đỏ để diệt chủng hết người dân Campuchia, đưa dân Trung Quốc vào chiếm toàn bộ Campuchia, ép VN từ phía Tây nam (“diệt hết hắc hầu, đưa người Tàu sang”, TQ ám chỉ người dân Campuchia là giống khỉ đen- hắc hầu). Đâu phải ngẫu nhiên nội tại đất nước Chùa Tháp này tự nứt nòi ra cái bè lũ diệt chủng Pôn-pốt, Iêng-xa-ri, Khiêu-xăm-phon độc tài phát xít tự hại chính dân nước mình như thế? Cái gốc sâu xa của cuộc nội chiến, gọi là “Xây dựng chế độ Cộng sản Pôn-pốt”, gây ra cảnh tang tóc đầu rơi như sung rụng, máu chảy thành sông chỉ trong hơn 3 năm đã giết gần 2 triệu người CPC, xem ra không ai khác mà chính là TQ, ông thầy Tàu đầy mưu sâu kế độc thâm hiểm do lòng tham mở rộng cương thổ bá quyền.

Việt Nam giải phóng Campuchia ngày 7-1-1979, mưu đồ thay chân Mỹ nhảy vào Đông Dương coi như bị tiêu tan,  Trung Quốc lòng lộn trả đũa “Dạy cho VN bài học” hùng hổ xua quân xâm lược trên toàn tuyến 6 tỉnh biên giới phía Bắc. Năm 1984, Trung Quốc rút quân về sau một tháng đánh phá không thành. Năm 1988, TQ cho quân tấn công quần đảo Trường Sa chiếm thêm một số đảo nhỏ và bãi đá ngầm làm bàn đạp để thực hiện mưu đồ thâu tóm toàn bộ  biển đông sau này.

Nếu tính từ khi  VN rút  toàn bộ quân tình nguyện VN rút quân về nước, từ năm 1989 đến nay mới được 22 năm tạm coi là thời kỳ hòa bình. Gọi là "tạm" bởi vì suốt 22 năm qua, Trung Quốc vẫn không ngừng lấn chiếm, gây bất ổn trên Biển Đông. Thế nên, ông bạn tướng về hưu của tôi nói chí phải: Việt Nam cho đến nay vẫn chưa có hòa bình thực sự.

Nay, cũng vì “cái lưỡi bò” đầy tham lam muốn liếm nuốt hết Biển Đông mà Trung Quốc đang thực hiện chiến lược “Ba bước lấn tới” đối với VN và các nước Đông Nam Á. Chiến lược đó là: Vùng biển-đảo đang yên lành là chủ quyền của nước khác thì nhà cầm quyền Bắc Kinh tuyên bố là chủ quyền của Trung Quốc, gây ra tranh chấp. Bước thứ hai: Trung Quốc kêu gọi: “Gác tranh chấp, cùng khai thác”, như câu chuyện ngụ ngôn “Sói gửi chân”. Bước thứ ba (khi sói đã chui vào được hang thỏ), Trung Quốc chiếm đoạt luôn. Trung Quốc không bao giờ từ bỏ mưu đồ đánh chiếm Việt Nam và toàn Đông Dương, làm bàn đạp tiếp tục mở cõi xuống khu vực Đông Nam Á.

Người lính già đồng đội của tôi nói rằng trong lúc này rất cần phải có “Hịch, Lời kêu gọi giữ vừng độc lập, chủ quyền, cứu nước”. Thực tế đã vậy, các nhà lãnh đạo Việt Nam ta phải nhận diện cho rõ: Trước mắt chúng ta là bạn, láng giềng hữu nghị, giúp nhau thực lòng, là đối tác tin cậy, hay thực chất là đối tượng tác chiến? Bởi vì bản chất và âm mưu của Trung Quốc là không dễ gì thay đổi. Cần nêu cao cảnh giác, giữ vững lập trường và rất cần bản lĩnh, ý chí, nếu cần phải xác định ý chí bảo vệ đất nước “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Hiện nay, đất nước đang bị đặt ra trước hiểm họa xâm lăng mới, liệu rằng những trang trại, biệt thự, xe hơi của các vị quan tham và các đại gia có còn giữ được không? Nếu chỉ lo vơ vét làm giàu trong khi đất nước đang lâm nguy thì quả là nhìn đời  chỉ một gang tay trước mắt. Không còn ai nghi ngờ rằng, cái quy luật việc đã đến thì sẽ phải đến. Nếu không nhìn sâu xa bản chất, mưu đồ, thủ đoạn của Trung Quốc thì còn bị mắc lừa, bị lao theo mồi câu mệt nhoài rồi bị mắc mưu sâu kế hiểm thật là thảm hại, là mối nguy cho đất nước, dân tộc.

Trước họa đất nước bị xâm lăng, mấy nghìn năm trước, vua Hùng dựng Cột đá thề, nay vẫn còn và trở thành di tích tham quan ở Đền Hùng. Tiếp đến, Hai Bà Trưng thế kế nghiệp xưa vua Hùng; Đinh Tiên Hoàng dựng nước, dựng kinh đô, đổi niên hiệu, chính ngôi vua, khẳng định độc lập dân tộc, bỏ được chế độ triều cống của nước chư hầu với Thiên triều Trung Quốc; Lý Nam Đế xuống chiếu kêu gọi cả dân tộc thề giữ nước, dựng xây cơ đồ nước Vạn Xuân; Lý Thường Kiệt tuyên bố “Nam quốc sơn hà Nam Đế cư…”; rồi Bình Ngô đại cáo, Hịch tướng sĩ, Tuyên ngôn Độc lập. Trong hai cuộc kháng chiến mới đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”,  rồi “Lời kêu gọi toàn quốc chống Mỹ cứu nước”…

Hịch tướng sĩ của Trần Hưng Đạo kêu gọi: “Nay các ngươi trông thấy chủ nhục mà không biết lo, trông thấy quốc-sỉ mà không biết thẹn, thân làm tướng phải hầu giặc, mà không biết tức, tai nghe nhạc để hiến ngụy sứ, mà không biết căm; hoặc lấy việc chọi gà làm vui-đùa, hoặc lấy việc đánh bạc làm tiêu-khiển, hoặc vui thú về vườn ruộng, hoặc quyến-luyến về vợ con, hoặc nghĩ về lợi riêng mà quên việc nước, hoặc ham về săn-bắn mà quên việc binh, hoặc thích rượu ngon, hoặc mê tiếng hát. Nếu có giặc đến, thì cựa gà trống sao cho đâm thủng được áo-giáp; mẹo cờ-bạc sao cho dùng nổi được quân-mưu; dẫu rằng ruộng lắm vườn nhiều, thân ấy nghìn vàng khôn chuộc; vả lại vợ bìu con díu, nước này trăm sự nghĩ sao; tiền-của đâu mà mua cho được đầu giặc; chó săn ấy thì địch sao nổi quân thù; chén rượu ngon không làm được cho giặc say chết, tiếng hát hay không làm được cho giặc điếc tai; khi bấy giờ chẳng những là thái-ấp của ta không còn, mà bổng-lộc của các ngươi cũng hết; chẳng những là gia-quyến của ta bị đuổi, mà vợ con của các ngươi cũng nguy; chẳng những là ta chịu nhục bây giờ, mà trăm năm về sau, tiếng xấu hãy còn mãi mãi; mà gia-thanh của các ngươi cũng chẳng khỏi mang tiếng nhục, đến lúc bấy giờ các ngươi dẫu muốn vui-vẻ, phỏng có được hay không?”.

Mới đây, trả lời phỏng vấn của báo Đại đoàn kết, Luật sư Trần Công Trục, nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ đã đưa ra những quan điểm rất rõ ràng: Có ý kiến cho rằng những sự việc TQ liên tiếp gây hấn ở Biển Đông thời gian gần đây như bắt bớ ngư dân, tuyên bố về thành phố Tam Sa thậm chí trắng trợn mời thầu quốc tế 9 lô dầu khí trong vùng đặc quyền kinh tế của ta là một hành động "trả đũa”, là thứ "đòn gió” để "răn đe” Việt Nam thôi vì Quốc hội Việt Nam vừa thông qua Luật Biển vào ngày 21-6-2012. Tuy nhiên, nếu xét các chuỗi hành động của Trung Quốc từ nhiều năm qua trên Biển Đông nhằm áp đặt yêu sách "đường lưỡi bò” thì có thể thấy hành động trên đây của họ là một bước tiến nằm trong kế hoạch lâu dài, một sự dấn tới có tính toán đã được vạch ra từ trước rồi.
           
Đó là một loạt các hoạt động tiếp tục thực hiện chiến lược tiến ra Biển Đông với yêu sách, âm mưu muốn "biến Biển Đông thành ao nhà của họ”. Họ đã vạch ra và đang từng bước thực hiện dã tâm đó.

            
TQ chỉ muốn giải quyết vấn đề Biển Đông bằng đàm phán song phương, không muốn đàm phán đa phương, vì cơ sở pháp lý để biện minh cho hành động của họ ở Biển Đông là rất yếu. Nếu quốc tế hóa vấn đề này thì sẽ có những chuyên gia giỏi của thế giới sẽ phanh phui sự thật là TQ đang có hành vi xâm lược nước khác.

Đặc biệt, nếu TQ tiếp tục các hành động vô lý, ngang ngược như vừa qua thì mình đã có Luật biển rồi. Phải thực thi Luật. Họ đã cố tình vi phạm ngay trên thềm lục địa của chúng ta chứ không phải vùng tranh chấp nào cả. Vì vậy chúng ta phải thực thi ngay những biện pháp theo đúng tuần tự pháp luật.

Vào cảnh huống này càng thấy nước Việt Nam ta liên tục phải chiến đấu chống giặc ngoại xâm để giữ yên bờ cõi, đời nào cũng phải thường trực ý thức nêu cao cảnh giác. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh báo: “Giành được độc lập dân tộc đã khó, giữ vững nền độc lập càng khó hơn”. Nay vẫn chưa thực sự được sống trong hòa bình yên vui. Thế nên, cần có Hịch cứu nước, rất cần có Lời kêu gọi toàn quân, toàn dân đoàn kết, trên dưới đồng lòng, giữ vững toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải thiêng liêng của Tổ quốc Việt Nam.



Theo dỏi tỷ giá đồng Việt Nam