Khi chữ SỢ đang dần dần biến mất

Lê Nguyên Bình
(ĐảngVDVN)
-
Sau gần một năm bị đè nén, phong trào biểu tình đã tái lập thành công trên đường phố Hà Nội và Sài Gòn. Sự kiện hàng trăm người có thể xuống đường trở lại ở Hà Nội và Sài-gòn là một dấu hiệu đáng khích lệ, dù sự thành công này phần nào bao gồm sự "nới lỏng có chủ ý và kiểm soát" của nhà cầm quyền. Với kinh nghiệm cũ và tình hình mới, đợt biểu tình lần hai hứa hẹn nhiều diễn biến khác hơn phong trào xảy ra vào đúng một năm trước.
Chủ quyền đất nước không thể giữ được bằng sự lên án suông, hay các hình thức phản đối mang tính biểu trưng. Lịch sử thế giới, và ở cả nước ta, chứng minh rằng: Lãnh thổ quốc gia chỉ được bảo vệ thành công khi có quyết tâm của cả dân tộc, kể cả những hy sinh bằng xương máu khi cần thiết. Trong bối cảnh chính trị phức tạp hiện nay, chủ trương dùng vũ lực để đấu tranh bảo toàn chủ quyền nước nhà, hay để dân chủ hoá đất nước, có thể không phù hợp. Tuy nhiên, giới hạn đó không bắt buộc nhân dân Việt Nam phải tự bó mình trong các hình thức đấu tranh bị động, khi chính đảng cầm quyền cũng đang tự bó mình trong thế bị động đầy mâu thuẫn. Đấu tranh là phải có sức mạnh, và phải ở thế chủ động!
Chống xâm lăng là việc quốc sự và cần có sự lãnh đạo sáng suốt của chính quyền. Nhưng công cuộc chống xâm lăng có hiệu quả hay không là tuỳ thuộc vào quyết tâm của đa số nhân dân. Nhà nước CSVN sẽ không thể thuyết phục được công luận khi chính họ không thể hiện được một thái độ dứt khoát đối với Trung Cộng; và cứ tiếp tục bắt bớ, ngăn trở những công dân yêu nước bày tỏ nguyện vọng chính đáng của mình. Thái độ lưng chừng của nhà cầm quyền biểu hiện điểm yếu của những người lãnh đạo Việt Nam, và vì vậy không tạo được sự kiêng nễ của Trung Cộng. Tình trạng đó, cộng hưởng với nhu cầu "bảo hộ chính trị" một cách lộ liễu của đảng CSVN trong bối cảnh phong trào dân chủ hoá đang bùng dậy dưới nhiều hình thức... dẫn đến trình trạng nhà cầm quyền Trung Cộng xem thường những lời phản đối mang tính hình thức của nhà nước CHXHCNVN.
Sức mạnh lớn nhất để ngăn chận sự bành trướng của Trung Cộng trên đất liền và biển Đông của Việt Nam là một quyết tâm to lớn và sắt đá của cả chính phủ và nhân dân Việt Nam. Trung Cộng có thể bắt chẹt đảng CSVN nhưng không thể trấn áp cả dân tộc Việt Nam. Có thể nói, chính quyền nào biết dụng sức dân để bảo vệ đất nước, thì chủ quyền nước đó mới có thể được bảo vệ đúng nghĩa và đúng mức.
Đối với phía quốc tế, Việt Nam đã bắt đầu có được một số yếu tố thuận lợi đáng chú ý, đặc biệt là khi Hoa Kỳ công khai khẳng định chiến lược ở vùng Đông Nam Á. Nếu nhà nước CSVN sáng suốt và khôn ngoan đúng mức thì sẽ có thể vận dụng những yếu tố cộng hưởng này một cách hiệu quả cho công cuộc bảo toàn lãnh hải Việt Nam. Tất nhiên Hoa Kỳ sẽ không đánh nhau với Trung Cộng để bảo vệ chủ quyền trên biển của Việt Nam, song Việt Nam có thể vận dụng nhu cầu phát triển chiến lược của Hoa Kỳ ở khu vực biển Đông để tạo thế tương quan quyền lợi như là một ràng buộc mặc nhiên. Phi Luật Tân có thái độ cứng rắn, rõ ràng đối với Trung Cộng về vấn đề chủ quyền lãnh hải được là nhờ chính phủ này không bị lệ thuộc vào Trung Cộng. Chính sách của họ được Hoa Kỳ ủng hộ cũng là nhờ vậy. Yếu tố quan trọng này đáng để cho nhà cầm quyền và nhân dân Việt Nam học hỏi. Vận động thế quốc tế là vô cùng cần thiết song cũng cần phải cảnh giác: Không vận dụng được Hoa Kỳ trong thế trận biển Đông là điều dỡ, song ỷ lại vào sự bảo vệ tuyệt đối nào đó của Hoa Kỳ sẽ là một hy vọng hoang tưởng, ngây thơ.
Đấu tranh bất bạo động để bảo vệ chủ quyền quốc gia hay nhằm dân chủ hoá đất nước cũng đều cần có số đông to lớn, đầy nhiệt huyết và ý chí. Do vậy, dù vài trăm người biểu tình ôn hoà không thể ngăn cản được tình trạng Trung Cộng xâm lấn thô bạo chủ quyền Việt Nam trên biển Đông song quyết tâm của những người yêu nước là chất xúc tác cần thiết trong tiến trình giải quyết những vấn nạn lớn của đất nước. Khi nhà cầm quyền ra sức ngăn trở, giới hạn và thậm chí là bắt bớ, giam cầm những người tham dự biểu tình ôn hoà... thì chính sự kiện đó chứng minh rằng chế độ thừa biết là hiện có một số đông rất lớn khác đang sẵn sàng tham gia tranh đấu. Trong số đó, thành viên các tổ chức đấu tranh đã, đang và sẽ tiếp tục thúc đẩy, yểm trợ cho phong trào. Đó là bổn phận công dân đồng thời cũng là trách nhiệm đoàn thể. Khi thực tế chứng minh được rằng hiện có một tiềm lực hùng hậu sẵn sàng dấn thân đấu tranh chống xâm lăng, độc tài và bất công, thì vấn đề chỉ còn là thời gian và điều kiện để có một hoàn cảnh xúc tác thuận lợi.
Lịch sử Việt Nam từng ghi lại rằng nhân dân Việt Nam đã đứng lên chống lại làn sóng xâm lấn từ phương Bắc nhiều lần, và đều thành công. Đế quốc to lớn này có thể áp chế được nước ta trong một thời gian nào đó, nhưng đều không khuất phục được ý chí vùng dậy đòi độc lập của dân tộc Việt. Hiện nay, đảng Cộng sản Trung Hoa có thể lạm dụng ưu thế đối với đảng CSVN song rõ ràng là họ không đè bẹp được ý thức bảo vệ chủ quyền quốc gia của người Việt Nam. Do vậy, chắc chắn là thế giới sẽ tiếp tục chứng kiến tiến trình đấu tranh vì độc lập, chủ quyền và dân chủ, tự do của người Việt Nam.
Nhà cầm quyền đang lùi và phong trào đấu tranh đang từng bước tiến tới. Nhà cầm quyền có thể bắt vài chục người nhưng không thể bắt hàng trăm, hàng ngàn người yêu nước cùng một lúc. Chế độc độc tài có thể ngăn chận vài trăm người biểu tình song sẽ không dám trấn áp hàng ngàn, hàng chục ngàn người xuống đường cùng lúc. Thực tế cho thấy nhà cầm quyền CSVN đang rất lúng túng và mất tự tin. Họ thừa hiểu việc những người yêu nước phản đối Trung Cộng xâm lấn là đúng. Cho nên, mọi hành động ngăn chận, kể cả bắt bớ... đều chỉ ở hình thức cảnh cáo, tạm giam ngắn hạn...
Khi mọi giới, mọi thế hệ đều hăng hái xuống đường và công khai khôi hài hoá những cuộc tra hỏi, bắt bớ, tạm giam... thì chữ SỢ trong người dân đang dần dần biến mất. Một khi người dân không còn SỢ, hàng hàng lớp lớp người yêu nước chống nô lệ, độc tài, tham ô và bất công sẽ đứng dậy. Khi nhà cầm quyền tiếp tục làm những điều nghịch lý, bất nhân khiến nhiều người phẩn uất đến độ "nổi điên" lên, dám bất chấp hiểm nguy, hậu quả... thì ngày đó Việt Nam có thể cũng sẽ diễn biến như Bắc Phi, Trung Đông!
Lê Nguyên Bình (ĐVDVN)
Cập nhật lúc : Thứ Ba, tháng 7 10, 2012
Đừng bội phản cha ông chúng ta
AFP. Khu vực quanh toà đại sứ TQ ở Hà Nội được tăng cường bảo vệ suốt ngày 1 tháng 7, 2012
Thanh Quang - RFA
-
Trong thời gian gần đây, dù có tuyên bố “trỗi dậy hoà bình” như thế nào đi chăng nữa, TQ ngày càng không che giấu hành động xâm lược ở Biển Đông mà hành động có tính cách “giành dân chiếm đất” còn đang tiếp diễn của Bắc Kinh là vụ Bãi cạn Scarborough của Philippines và Trung Quốc gọi thầu khai thác 9 lô dầu sâu trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.
Đừng để quá muộn
Nguy cơ lãnh hải Việt Nam bị mất dần vào tay Phương Bắc khiến blogger Nguyễn Thông không khỏi báo động “Bớ làng nước ơi, giặc vào tận trong nhà rồi”, để “tự dưng cứ chập chờn hình ảnh cha con An Dương Vương quất ngựa vào núi Mộ Dạ khi đã quá muộn”; khiến nhà văn Trần Khải báo động “hoàn cảnh cả nước bị bao vây bởi những tàu lạ có chữ Hán”; khiến blogger Thuỳ Linh bực tức rằng “ Biển Đông bây giờ bọn Tàu cứ chềnh ềnh tàu và người nó ra đấy”…
Trước nguy cơ đó giữa lúc giới cầm quyền Việt Nam ứng phó trong chiều hướng mà nhiều bloggers cáo giác là “hèn với giặc nhưng ác với dân”, với người biểu tình yêu nước, Đức Đệ Ngũ Tăng Thống GHPG Việt NamTN, Đại lão Hoà Thượng Thích Quảng Độ đã viết thư phản đối gởi Đại sứ Trung Quốc Khổng Huyễn Hựu tại Hà Nội, để “nói lên nỗi âu lo và phẫn nộ của toàn dân Việt nói chung và Phật giáo đồ Việt Nam nói riêng”, nhắc lại chuyện “tự nghìn xưa” về “sự xâm lăng và chiếm đóng Việt Nam của các triều đình phong kiến Trung Quốc” mà ngày nay người dân Việt không khỏi “ngỡ ngàng trước việc Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa áp dụng lại chính

sách thực dân xâm chiếm của các triều đình đại Hán đã lỗi thời ở thế kỷ 21, là thế kỷ của tương sinh và cộng tác quốc tế”.
Đại lão Hoà Thượng Thích Quảng Độ cũng không quên đề cập tới chuyện mà Ngài tin là Đại sứ Khổng Huyễn Hựu “không thể chối cãi”, đó là “…Hằng nghìn công nhân Trung Quốc hiện hữu ở vùng yết hầu quân sự Tây Nguyên Việt Nam”, “Hai Hiệp ước lãnh thổ và lãnh hải ký kết giữa Bắc Kinh và Hà Nội năm 1999 và 2000 đã cho phép Trung Quốc lấn chiếm lãnh thổ và lãnh hải Việt Nam trên hàng nghìn cây số vuông”…”, “Từ năm 1974 dưới thời Việt Nam Cộng hòa, rồi qua các năm 1988, 1992 Trung Quốc đã dùng vũ lực xâm lược Hoàng Sa và tám đảo ở Trường sa. Bao năm qua, ngư dân Việt Nam đã bị Trung Quốc bắt bớ, giết chóc, đòi tiền chuộc, biến ngư dân Việt thành bia đỡ đạn trước âm mưu xâm lược Biển Đông. Gần đây nhất, Tổng công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc ngang nhiên mở thầu thăm dò dầu khí ở chín lô trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) 200 hải lý và thềm lục địa của Việt Nam”.
Và Hoà Thượng Thích Quảng Độ hết lòng mong mỏi Đại sứ Trung Quốc “biết lắng nghe tiếng kêu trầm thống của gần 90 triệu người dân Việt đang khắc khoải lo âu trước cảnh nhà tan, nước mất, như chính nhân dân Trung Quốc đã luân hiểm đau thương như thế vào thế kỷ XIX khi các nước ngoại quốc xâm lăng Trung Quốc”. Tại sao Đại Lão Hoà Thượng Quảng Độ mong mỏi như thế ở một quan Tàu. Ngài giải thích:
Ngày xưa Sử gia Tư Mã Thiên không vì bị triều đình phong kiến phế thân bóp méo dòng lịch sử mà vẫn quyết tâm viết theo sự thật. Ngày nay, tôi mong mỏi Ngài Đại sứ sẽ để lại trong dòng lịch sử thế giới : Người đã chận đứng sự chết thảm của nhân dân Trung Quốc và nhân dân Việt Nam trong cuộc xâm lược vô vọng sắp tới theo chính sách bành trướng phi thời vụ của nhà cầm quyền Bắc Kinh, mà chắc chắn chỉ đưa tới thất bại.
Không vì cái ghế mà bỏ Tổ quốc
Qua bài “Trung Quốc đang xâm lược Việt Nam”, GS Nguyễn Thanh Giang lưu ý thời cha ông của chúng ta, ai cũng “rạch ròi” rằng “Nam Quốc sơn hà Nam đế cư”, ngoại trừ những nhân vật phản bội quê hương, dân tộc như Lê Chiêu Thống, Trần Ích Tắc. Theo GS Nguyễn Thanh Giang thì “Bội phản cha ông” thời nay - thời ĐCSViệt Nam trị vì, “các cuộc xâm lược từ Phương Bắc đều do các lãnh tụ ĐCSViệt Nam mời” vào:
Thời Hồ Chí Minh: có công hàm 14 tháng 9 năm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng.
Thời Lê Duẩn: không biết có mời không nhưng, năm 1974, khi binh lính đồng bào mình (Việt Nam Cộng hòa) bị Trung Quốc diệt để chiếm Hoàng Sa thì lãnh đạo Cộng sản Bắc Việt chỉ đứng nhìn và vỗ tay.

Thời Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu: “Hiệp ước biên giới trên đất liền Việt Nam và Trung Quốc” ký ngày 30/12/1999 “mời Trung Quốc xơi” 1500 km2 lãnh thổ, trong đó, có các địa danh lịch sử nổi tiếng: Ải Nam Quan, thác Bản Giốc… cùng các cao điểm có tính chiến lược quốc phòng …“Hiệp định Vịnh Bắc Bộ” ký kết ngày 25/12/2000, cắt dâng 10% diện tích phần lãnh hải ở đây cho Trung Quốc.
Thời Nông Đức Mạnh:Trung Quốc được ông Tổng Bí thư này mời vào đóng chốt ở Tây Nguyên dưới danh nghĩa khai thác bauxite.
Thời TBT Nguyễn Phú Trọng: lời “mời” (xâm lược) còn toàn diện hơn, sâu sắc hơn..:
“ Hai bên khẳng định, Việt Nam và Trung Quốc tiếp tục kiên trì phương châm “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và tinh thần “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”…
Hai bên nhất trí cho rằng, trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực diễn biến sâu sắc, phức tạp, việc hai Đảng, hai nước Việt Nam – Trung Quốc tăng cường hơn nữa sự tin cậy chiến lược, hợp tác chặt chẽ toàn diện…
Đi sâu hợp tác giữa hai quân đội, tăng cường tiếp xúc giữa lãnh đạo cấp cao quân đội hai nước…
Theo GS Nguyễn Thanh Giang thì “ Buộc nhau phải kiên trì phương châm nọ phương châm kia đâu phải vì quyền lợi dân tộc, vì đời sống của nhân dân mình mà “vì tầm cao chiến lược và tầm nhìn toàn cục”, và vì để “có lợi cho sự nghiệp chủ nghĩa xã hội!”, và “Cướp rừng đoạt biển của nhau trắng trợn đến thế thì rõ ràng là kẻ thù rồi. Chưa choảng cho họ một trận chẳng qua chỉ vì chưa dám đánh, chưa muốn đánh, chưa đến lúc đánh chứ “Đi sâu hợp tác giữa hai quân đội” để làm gì? Để đi đánh ai? Hay để lập Thiên An Môn ở Việt Nam?”.
Trong khi đó, “…lãnh đạo chỉ thị phải tin rằng Trung Quốc là “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”. Lại bảo phải: “tăng cường hơn nữa sự tin cậy chiến lược, hợp tác chặt chẽ toàn diện”. Thật là khốn khổ! Nguy cơ chết đến nơi thật rồi!...Không thể ù lì được nữa, không được bảo mạng, không được vì ơn sâu nghĩa nặng cái ghế của mình mà bỏ Tổ quốc”.
Hèn với giặc ác với dân
Thực trạng quê hương cùng sự tồn vong dân tộc đang bị Phương Bắc đe doạ - ngày càng ráo riết và trầm trọng – đã dẫn tới nhiều cuộc xuống đường biểu tình của người dân Việt yêu nước – nhưng bị giới cầm quyền, công an Việt Nam thẳng tay đánh đập, trù dập một cách vô cảm, phi lý. Chẳng hạn như trường hợp Bùi Thị Minh Hằng, qua bức thư chị gởi tới Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton với những dòng như sau:
Mùa hè năm 2011, tôi đã cùng với đồng bào Việt Nam xuống đường biểu tình chống Trung Quốc xâm lược, thay vì bảo vệ cho chúng tôi, nhà cầm quyền Việt Nam đã xem chúng tôi là "phản động", "thế lực thù địch".
Bùi Thị Minh Hằng, qua bài “ Hãy cứu dân vô tội trước hành động khủng bố của nhà cầm quyền Việt Nam”, báo động rằng bản thân chị đã từng chịu nhiều lần bắt bớ giam cầm trái phép chỉ vì muốn lên tiếng thể hiện lòng yêu nước và đòi hỏi quyền con người dân chủ theo đúng pháp luật và hiến pháp. Nhưng nhà cầm quyền ra sức đàn áp, bức hại chị mà - theo lời Bùi Hằng – “không từ một thủ đoạn hèn hạ bỉ ổi nào...”. Và công dân yêu nước Bùi Thị Minh Hằng khẳng định nếu “việc làm thô bạo của nhà cầm quyền cứ tiếp diễn và gây bức ép…bằng khủng bố, đàn áp, đe doạ, vu khống” thì:

Tôi, công dân Việt Nam yêu nước Bùi thị Minh Hằng, sinh ngày 20/7/1964, thường trú tại 106 Lê Hồng Phong, phường 4, Thành Phố Vũng Tàu sẽ tự thiêu để lên án sự bức hại của chính quyền đối với bản thân tôi cũng như những hành xử tương tự và thường xuyên gia tăng với rất nhiều đồng bào tôi trên khắp lãnh thổ…và coi họ như kẻ thù!
Trước cảnh nhiễu nhương đó, Hoà Thượng Thích Viên Định, Viện Trưởng Viện Hoá Đạo, GHPGViệt NamTN, cáo giác:
Hành động bắt cóc người dân trên đường đi của những người không sắc phục, không có thẻ công an, rồi tiếp tục khủng bố, đe doạ, sách nhiễu của Nhà cầm quyền cộng sản, như lời kêu cứu của bà Bùi Thị Minh Hằng khiến bà có ý nghĩ tự thiêu để tố cáo tình trạng phi pháp, độc tài, chứng minh điều gì, nếu không là hành vi phi pháp của một Nhà nước hành xử như băng đảng xã hội đen ?Việc bắt bớ, đánh đập, đạp vào mặt, bỏ tù, cho vào trại cải tạo những người đi biểu tình, nhất là những người biểu tình chống ngoại xâm bảo vệ đất nước, như Điếu Cày – Nguyễn Văn Hải, Bùi thị Minh Hằng, Nguyễn Chí Đức, Trịnh Kim Tiến, Huỳnh Thục Vy và các em … đã chứng minh điều gì, nếu không là hành vi của kẻ phản quốc ?Một nhà nước chân chánh, lương thiện không thể hành xử với người dân bằng những hành vi phát xít như thế.
Hay trường hợp blogger “chứa chan lòng yêu nước” Huỳnh Thục Vy cùng chồng là Lê Khánh Duy và người thân cùng nhiều bạn trẻ khác cũng vì ra sức tham gia biểu tình chống Trung Quốc xâm lược cách nay hơn một tuần mà lâm vào tình cảnh – nói theo lời Lê Khánh Duy khi “tố cáo hành vi sách nhiễu và vi phạm pháp luật của CA” – là “chúng bóp cổ, đánh đập, trấn áp tàn bạo”, “Họ thay nhau thẩm vấn, hỏi cung chúng tôi, làm cho tinh thần chúng tôi hoảng loạn và sức khoẻ bị suy sụp nghiêm trọng”. Khánh Duy cho biết thêm rằng “Thục Vy do bị đánh đập và đàn áp trong lúc bị bắt lên xe đã xuất huyết ngay trong đồn, ướt cả quần đang mặc, nhưng chúng vẫn tiếp tục thẩm vấn”, “Cả mấy anh chị em toàn thân bầm dập và ê ẩm. Riêng Thục Vy bị chấn thương nhiều chỗ…”.
Sau khi an ninh Quảng Nam vào tận Sàigòn “kéo Thục Vy một cách thô bạo lên xe” để áp giải về Đà Nẵng gọi là “làm việc” tiếp, cuối cùng Thục Vy cũng được về nhà. Qua bài “Sang sông”, tác giả Sông Kôn nhận định:
Họ rất sợ và không bao giờ chịu để cho cô Huỳnh Thục Vy sống ở đất Sài Gòn. Tại sao vậy ? Đó là vì họ sợ tấm gương về yêu nước và lòng dũng cảm của cô là điểm sáng cho mọi người tìm đến, đó là họ sợ cô cùng giới bạn bè trẻ blogger liên kết lại tạo thành phong trào yêu nước trong giới trẻ hiện nay...
Theo blogger Nhã Nam qua bài “Từ Điếu Cày đến Huỳnh Thục Vy – một thế hệ mới đã thành hình”, thì “Hình ảnh cô gái trẻ Huỳnh Thục Vy cùng chồng và các em bị bắt, bị trấn áp thô bạo ngay đường phố cũng làm liên tưởng đến cảnh blogger Điếu Cày bị bắt giữa phố vài năm trước. Nhưng Sài Gòn của năm 2012 đã khác, giữa Điếu Cày và các em bị bắt hôm nay là cách biệt tuổi tác hơn một thế hệ và sẽ càng ngày càng trẻ. Nếu như Điếu Cày và CLB Nhà báo Tự do đứng khá cô đơn trên bậc thềm Nhà hát Thành phố thì hôm nay, các em đã sát cánh bên nhau để đến tận đồn công an đòi người. Một thế hệ trưởng thành qua đàn áp sẽ tiếp nối cho một xã hội dân sự lành mạnh hình thành”.
Và hôm qua Chủ Nhật mùng 8 tháng 7, những người dân Việt tại Saigòn và Hà Nội cũng lại ra sức thể hiện lòng yêu nước chống Trung Quốc xâm lược. Trong khi tại Saigòn, công an, an ninh chìm, nổi “dầy đặc”, với nhiều xe công vụ, xe cảnh sát và cả xe ôm trá hình tại những khu vực có đông người quy tụ như Công viên 30-4, khu Nhà Thờ Đức Bà, để sẵn sàng trấn áp khiến cuộc tuần hành đã không diễn ra, thì tại Hà Nội, được biết hàng trăm người dân Hà Nội, có cả Cụ bà Lê Hiền Đức, nhà dân chủ Phạm Hồng Sơn, LS Lê Quốc Quân đã xuống đường biểu tình trong tiết trời mát dịu, không mưa. Họ hô vang khẩu hiệu “Hoàng Sa-Trường Sa-Việt Nam” đầy khí thế dù vẫn có sự hiện diện đông đảo của lực lượng công an. Theo ghi nhận của các bloggers thì chưa thấy có dấu hiệu bắt bớ, đàn áp tại Hà Nội hôm qua.
Khi viết “Những Tố Hữu đang sẵn sàng tố tả”, tác giả Nhật Bình không quên lưu ý rằng:
Nếu những quan chức ở thượng tầng còn lo ngại và đang tìm mọi cách xóa sạch hồ sơ như vậy, thử hỏi những cán bộ cấp trung và thấp, những người không có đường chạy, có nên tiếp tục nợ thêm máu nhân dân không? Đặc biệt trong hàng ngũ công an, liệu cán bộ cấp trung và thấp có nên cứ tiếp tục làm công cụ tay sai, thi hành những chỉ thị miệng “ác ôn” của cấp trên truyền xuống không — những chỉ thị mà lãnh đạo sẽ sẵn sàng chối bỏ trách nhiệm và đổ vấy cho cấp dưới? Và càng thấp trong hệ thống, các chiến sĩ công an càng cần biết rằng trên cả thế giới ngày nay, chứ không riêng gì ở Việt Nam, các tòa án công lý đúng nghĩa đã từ lâu không còn chấp nhận kiểu ngụy biện “chỉ vì theo lệnh trên”!
Đừng để quá muộn
Nguy cơ lãnh hải Việt Nam bị mất dần vào tay Phương Bắc khiến blogger Nguyễn Thông không khỏi báo động “Bớ làng nước ơi, giặc vào tận trong nhà rồi”, để “tự dưng cứ chập chờn hình ảnh cha con An Dương Vương quất ngựa vào núi Mộ Dạ khi đã quá muộn”; khiến nhà văn Trần Khải báo động “hoàn cảnh cả nước bị bao vây bởi những tàu lạ có chữ Hán”; khiến blogger Thuỳ Linh bực tức rằng “ Biển Đông bây giờ bọn Tàu cứ chềnh ềnh tàu và người nó ra đấy”…
Trước nguy cơ đó giữa lúc giới cầm quyền Việt Nam ứng phó trong chiều hướng mà nhiều bloggers cáo giác là “hèn với giặc nhưng ác với dân”, với người biểu tình yêu nước, Đức Đệ Ngũ Tăng Thống GHPG Việt NamTN, Đại lão Hoà Thượng Thích Quảng Độ đã viết thư phản đối gởi Đại sứ Trung Quốc Khổng Huyễn Hựu tại Hà Nội, để “nói lên nỗi âu lo và phẫn nộ của toàn dân Việt nói chung và Phật giáo đồ Việt Nam nói riêng”, nhắc lại chuyện “tự nghìn xưa” về “sự xâm lăng và chiếm đóng Việt Nam của các triều đình phong kiến Trung Quốc” mà ngày nay người dân Việt không khỏi “ngỡ ngàng trước việc Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa áp dụng lại chính
Đức Tăng Thống Thích Quảng Độ tại Thanh Minh Thiền Viện.
sách thực dân xâm chiếm của các triều đình đại Hán đã lỗi thời ở thế kỷ 21, là thế kỷ của tương sinh và cộng tác quốc tế”.
Nguy cơ lãnh hải Việt Nam bị mất dần vào tay Phương Bắc khiến blogger Nguyễn Thông không khỏi báo động “Bớ làng nước ơi, giặc vào tận trong nhà rồi”, để “tự dưng cứ chập chờn hình ảnh cha con An Dương Vương quất ngựa vào núi Mộ Dạ khi đã quá muộn”
Đại lão Hoà Thượng Thích Quảng Độ cũng không quên đề cập tới chuyện mà Ngài tin là Đại sứ Khổng Huyễn Hựu “không thể chối cãi”, đó là “…Hằng nghìn công nhân Trung Quốc hiện hữu ở vùng yết hầu quân sự Tây Nguyên Việt Nam”, “Hai Hiệp ước lãnh thổ và lãnh hải ký kết giữa Bắc Kinh và Hà Nội năm 1999 và 2000 đã cho phép Trung Quốc lấn chiếm lãnh thổ và lãnh hải Việt Nam trên hàng nghìn cây số vuông”…”, “Từ năm 1974 dưới thời Việt Nam Cộng hòa, rồi qua các năm 1988, 1992 Trung Quốc đã dùng vũ lực xâm lược Hoàng Sa và tám đảo ở Trường sa. Bao năm qua, ngư dân Việt Nam đã bị Trung Quốc bắt bớ, giết chóc, đòi tiền chuộc, biến ngư dân Việt thành bia đỡ đạn trước âm mưu xâm lược Biển Đông. Gần đây nhất, Tổng công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc ngang nhiên mở thầu thăm dò dầu khí ở chín lô trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) 200 hải lý và thềm lục địa của Việt Nam”.
Và Hoà Thượng Thích Quảng Độ hết lòng mong mỏi Đại sứ Trung Quốc “biết lắng nghe tiếng kêu trầm thống của gần 90 triệu người dân Việt đang khắc khoải lo âu trước cảnh nhà tan, nước mất, như chính nhân dân Trung Quốc đã luân hiểm đau thương như thế vào thế kỷ XIX khi các nước ngoại quốc xâm lăng Trung Quốc”. Tại sao Đại Lão Hoà Thượng Quảng Độ mong mỏi như thế ở một quan Tàu. Ngài giải thích:
Ngày xưa Sử gia Tư Mã Thiên không vì bị triều đình phong kiến phế thân bóp méo dòng lịch sử mà vẫn quyết tâm viết theo sự thật. Ngày nay, tôi mong mỏi Ngài Đại sứ sẽ để lại trong dòng lịch sử thế giới : Người đã chận đứng sự chết thảm của nhân dân Trung Quốc và nhân dân Việt Nam trong cuộc xâm lược vô vọng sắp tới theo chính sách bành trướng phi thời vụ của nhà cầm quyền Bắc Kinh, mà chắc chắn chỉ đưa tới thất bại.
tôi mong mỏi Ngài Đại sứ sẽ để lại trong dòng lịch sử thế giới : Người đã chận đứng sự chết thảm của nhân dân Trung Quốc và nhân dân Việt Nam trong cuộc xâm lược vô vọng sắp tới theo chính sách bành trướng phi thời vụ của nhà cầm quyền Bắc Kinh, mà chắc chắn chỉ đưa tới thất bại.
Đại Lão Hoà Thượng Quảng Độ
Không vì cái ghế mà bỏ Tổ quốc
Qua bài “Trung Quốc đang xâm lược Việt Nam”, GS Nguyễn Thanh Giang lưu ý thời cha ông của chúng ta, ai cũng “rạch ròi” rằng “Nam Quốc sơn hà Nam đế cư”, ngoại trừ những nhân vật phản bội quê hương, dân tộc như Lê Chiêu Thống, Trần Ích Tắc. Theo GS Nguyễn Thanh Giang thì “Bội phản cha ông” thời nay - thời ĐCSViệt Nam trị vì, “các cuộc xâm lược từ Phương Bắc đều do các lãnh tụ ĐCSViệt Nam mời” vào:
Thời Hồ Chí Minh: có công hàm 14 tháng 9 năm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng.
Thời Lê Duẩn: không biết có mời không nhưng, năm 1974, khi binh lính đồng bào mình (Việt Nam Cộng hòa) bị Trung Quốc diệt để chiếm Hoàng Sa thì lãnh đạo Cộng sản Bắc Việt chỉ đứng nhìn và vỗ tay.
Cụ Lê Hiền Đức dẫn đầu đoàn biểu tình tại Hà Nội ngày 8/7/2012. NXD
Thời Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu: “Hiệp ước biên giới trên đất liền Việt Nam và Trung Quốc” ký ngày 30/12/1999 “mời Trung Quốc xơi” 1500 km2 lãnh thổ, trong đó, có các địa danh lịch sử nổi tiếng: Ải Nam Quan, thác Bản Giốc… cùng các cao điểm có tính chiến lược quốc phòng …“Hiệp định Vịnh Bắc Bộ” ký kết ngày 25/12/2000, cắt dâng 10% diện tích phần lãnh hải ở đây cho Trung Quốc.
Thời Nông Đức Mạnh:Trung Quốc được ông Tổng Bí thư này mời vào đóng chốt ở Tây Nguyên dưới danh nghĩa khai thác bauxite.
Thời TBT Nguyễn Phú Trọng: lời “mời” (xâm lược) còn toàn diện hơn, sâu sắc hơn..:
“ Hai bên khẳng định, Việt Nam và Trung Quốc tiếp tục kiên trì phương châm “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và tinh thần “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”…
Hai bên nhất trí cho rằng, trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực diễn biến sâu sắc, phức tạp, việc hai Đảng, hai nước Việt Nam – Trung Quốc tăng cường hơn nữa sự tin cậy chiến lược, hợp tác chặt chẽ toàn diện…
Đi sâu hợp tác giữa hai quân đội, tăng cường tiếp xúc giữa lãnh đạo cấp cao quân đội hai nước…
Theo GS Nguyễn Thanh Giang thì “ Buộc nhau phải kiên trì phương châm nọ phương châm kia đâu phải vì quyền lợi dân tộc, vì đời sống của nhân dân mình mà “vì tầm cao chiến lược và tầm nhìn toàn cục”, và vì để “có lợi cho sự nghiệp chủ nghĩa xã hội!”, và “Cướp rừng đoạt biển của nhau trắng trợn đến thế thì rõ ràng là kẻ thù rồi. Chưa choảng cho họ một trận chẳng qua chỉ vì chưa dám đánh, chưa muốn đánh, chưa đến lúc đánh chứ “Đi sâu hợp tác giữa hai quân đội” để làm gì? Để đi đánh ai? Hay để lập Thiên An Môn ở Việt Nam?”.
…lãnh đạo chỉ thị phải tin rằng Trung Quốc là “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”. Lại bảo phải: “tăng cường hơn nữa sự tin cậy chiến lược, hợp tác chặt chẽ toàn diện”. Thật là khốn khổ! Nguy cơ chết đến nơi thật rồi!...không được vì ơn sâu nghĩa nặng cái ghế của mình mà bỏ Tổ quốc
GS Nguyễn Thanh Giang
Trong khi đó, “…lãnh đạo chỉ thị phải tin rằng Trung Quốc là “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”. Lại bảo phải: “tăng cường hơn nữa sự tin cậy chiến lược, hợp tác chặt chẽ toàn diện”. Thật là khốn khổ! Nguy cơ chết đến nơi thật rồi!...Không thể ù lì được nữa, không được bảo mạng, không được vì ơn sâu nghĩa nặng cái ghế của mình mà bỏ Tổ quốc”.
Hèn với giặc ác với dân
Thực trạng quê hương cùng sự tồn vong dân tộc đang bị Phương Bắc đe doạ - ngày càng ráo riết và trầm trọng – đã dẫn tới nhiều cuộc xuống đường biểu tình của người dân Việt yêu nước – nhưng bị giới cầm quyền, công an Việt Nam thẳng tay đánh đập, trù dập một cách vô cảm, phi lý. Chẳng hạn như trường hợp Bùi Thị Minh Hằng, qua bức thư chị gởi tới Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton với những dòng như sau:
Mùa hè năm 2011, tôi đã cùng với đồng bào Việt Nam xuống đường biểu tình chống Trung Quốc xâm lược, thay vì bảo vệ cho chúng tôi, nhà cầm quyền Việt Nam đã xem chúng tôi là "phản động", "thế lực thù địch".
Bùi Thị Minh Hằng, qua bài “ Hãy cứu dân vô tội trước hành động khủng bố của nhà cầm quyền Việt Nam”, báo động rằng bản thân chị đã từng chịu nhiều lần bắt bớ giam cầm trái phép chỉ vì muốn lên tiếng thể hiện lòng yêu nước và đòi hỏi quyền con người dân chủ theo đúng pháp luật và hiến pháp. Nhưng nhà cầm quyền ra sức đàn áp, bức hại chị mà - theo lời Bùi Hằng – “không từ một thủ đoạn hèn hạ bỉ ổi nào...”. Và công dân yêu nước Bùi Thị Minh Hằng khẳng định nếu “việc làm thô bạo của nhà cầm quyền cứ tiếp diễn và gây bức ép…bằng khủng bố, đàn áp, đe doạ, vu khống” thì:
Cô Huỳnh Thục Vy bị bắt một cách thô bạo ngày 1 tháng 7, 2012. TTCCT/danlambao
Tôi, công dân Việt Nam yêu nước Bùi thị Minh Hằng, sinh ngày 20/7/1964, thường trú tại 106 Lê Hồng Phong, phường 4, Thành Phố Vũng Tàu sẽ tự thiêu để lên án sự bức hại của chính quyền đối với bản thân tôi cũng như những hành xử tương tự và thường xuyên gia tăng với rất nhiều đồng bào tôi trên khắp lãnh thổ…và coi họ như kẻ thù!
Tôi, công dân Việt Nam yêu nước Bùi thị Minh Hằng, sinh ngày 20/7/1964, thường trú tại 106 Lê Hồng Phong, phường 4, Thành Phố Vũng Tàu sẽ tự thiêu để lên án sự bức hại của chính quyền đối với bản thân tôi cũng như những hành xử tương tự ...với rất nhiều đồng bào tôi trên khắp lãnh thổ…
Bùi Thị Minh Hằng
Trước cảnh nhiễu nhương đó, Hoà Thượng Thích Viên Định, Viện Trưởng Viện Hoá Đạo, GHPGViệt NamTN, cáo giác:
Hành động bắt cóc người dân trên đường đi của những người không sắc phục, không có thẻ công an, rồi tiếp tục khủng bố, đe doạ, sách nhiễu của Nhà cầm quyền cộng sản, như lời kêu cứu của bà Bùi Thị Minh Hằng khiến bà có ý nghĩ tự thiêu để tố cáo tình trạng phi pháp, độc tài, chứng minh điều gì, nếu không là hành vi phi pháp của một Nhà nước hành xử như băng đảng xã hội đen ?Việc bắt bớ, đánh đập, đạp vào mặt, bỏ tù, cho vào trại cải tạo những người đi biểu tình, nhất là những người biểu tình chống ngoại xâm bảo vệ đất nước, như Điếu Cày – Nguyễn Văn Hải, Bùi thị Minh Hằng, Nguyễn Chí Đức, Trịnh Kim Tiến, Huỳnh Thục Vy và các em … đã chứng minh điều gì, nếu không là hành vi của kẻ phản quốc ?Một nhà nước chân chánh, lương thiện không thể hành xử với người dân bằng những hành vi phát xít như thế.
Hay trường hợp blogger “chứa chan lòng yêu nước” Huỳnh Thục Vy cùng chồng là Lê Khánh Duy và người thân cùng nhiều bạn trẻ khác cũng vì ra sức tham gia biểu tình chống Trung Quốc xâm lược cách nay hơn một tuần mà lâm vào tình cảnh – nói theo lời Lê Khánh Duy khi “tố cáo hành vi sách nhiễu và vi phạm pháp luật của CA” – là “chúng bóp cổ, đánh đập, trấn áp tàn bạo”, “Họ thay nhau thẩm vấn, hỏi cung chúng tôi, làm cho tinh thần chúng tôi hoảng loạn và sức khoẻ bị suy sụp nghiêm trọng”. Khánh Duy cho biết thêm rằng “Thục Vy do bị đánh đập và đàn áp trong lúc bị bắt lên xe đã xuất huyết ngay trong đồn, ướt cả quần đang mặc, nhưng chúng vẫn tiếp tục thẩm vấn”, “Cả mấy anh chị em toàn thân bầm dập và ê ẩm. Riêng Thục Vy bị chấn thương nhiều chỗ…”.
Sau khi an ninh Quảng Nam vào tận Sàigòn “kéo Thục Vy một cách thô bạo lên xe” để áp giải về Đà Nẵng gọi là “làm việc” tiếp, cuối cùng Thục Vy cũng được về nhà. Qua bài “Sang sông”, tác giả Sông Kôn nhận định:
Họ rất sợ và không bao giờ chịu để cho cô Huỳnh Thục Vy sống ở đất Sài Gòn. Tại sao vậy ? Đó là vì họ sợ tấm gương về yêu nước và lòng dũng cảm của cô là điểm sáng cho mọi người tìm đến, đó là họ sợ cô cùng giới bạn bè trẻ blogger liên kết lại tạo thành phong trào yêu nước trong giới trẻ hiện nay...
Theo blogger Nhã Nam qua bài “Từ Điếu Cày đến Huỳnh Thục Vy – một thế hệ mới đã thành hình”, thì “Hình ảnh cô gái trẻ Huỳnh Thục Vy cùng chồng và các em bị bắt, bị trấn áp thô bạo ngay đường phố cũng làm liên tưởng đến cảnh blogger Điếu Cày bị bắt giữa phố vài năm trước. Nhưng Sài Gòn của năm 2012 đã khác, giữa Điếu Cày và các em bị bắt hôm nay là cách biệt tuổi tác hơn một thế hệ và sẽ càng ngày càng trẻ. Nếu như Điếu Cày và CLB Nhà báo Tự do đứng khá cô đơn trên bậc thềm Nhà hát Thành phố thì hôm nay, các em đã sát cánh bên nhau để đến tận đồn công an đòi người. Một thế hệ trưởng thành qua đàn áp sẽ tiếp nối cho một xã hội dân sự lành mạnh hình thành”.
Họ rất sợ và không bao giờ chịu để cho cô Huỳnh Thục Vy sống ở đất Sài Gòn. Tại sao vậy ? Đó là vì họ sợ tấm gương về yêu nước và lòng dũng cảm của cô là điểm sáng cho mọi người tìm đến, đó là họ sợ cô cùng giới bạn bè trẻ blogger liên kết lại tạo thành phong trào yêu nước trong giới trẻ hiện nay
Sông Kôn
Và hôm qua Chủ Nhật mùng 8 tháng 7, những người dân Việt tại Saigòn và Hà Nội cũng lại ra sức thể hiện lòng yêu nước chống Trung Quốc xâm lược. Trong khi tại Saigòn, công an, an ninh chìm, nổi “dầy đặc”, với nhiều xe công vụ, xe cảnh sát và cả xe ôm trá hình tại những khu vực có đông người quy tụ như Công viên 30-4, khu Nhà Thờ Đức Bà, để sẵn sàng trấn áp khiến cuộc tuần hành đã không diễn ra, thì tại Hà Nội, được biết hàng trăm người dân Hà Nội, có cả Cụ bà Lê Hiền Đức, nhà dân chủ Phạm Hồng Sơn, LS Lê Quốc Quân đã xuống đường biểu tình trong tiết trời mát dịu, không mưa. Họ hô vang khẩu hiệu “Hoàng Sa-Trường Sa-Việt Nam” đầy khí thế dù vẫn có sự hiện diện đông đảo của lực lượng công an. Theo ghi nhận của các bloggers thì chưa thấy có dấu hiệu bắt bớ, đàn áp tại Hà Nội hôm qua.
Khi viết “Những Tố Hữu đang sẵn sàng tố tả”, tác giả Nhật Bình không quên lưu ý rằng:
Nếu những quan chức ở thượng tầng còn lo ngại và đang tìm mọi cách xóa sạch hồ sơ như vậy, thử hỏi những cán bộ cấp trung và thấp, những người không có đường chạy, có nên tiếp tục nợ thêm máu nhân dân không? Đặc biệt trong hàng ngũ công an, liệu cán bộ cấp trung và thấp có nên cứ tiếp tục làm công cụ tay sai, thi hành những chỉ thị miệng “ác ôn” của cấp trên truyền xuống không — những chỉ thị mà lãnh đạo sẽ sẵn sàng chối bỏ trách nhiệm và đổ vấy cho cấp dưới? Và càng thấp trong hệ thống, các chiến sĩ công an càng cần biết rằng trên cả thế giới ngày nay, chứ không riêng gì ở Việt Nam, các tòa án công lý đúng nghĩa đã từ lâu không còn chấp nhận kiểu ngụy biện “chỉ vì theo lệnh trên”!
Cập nhật lúc : Thứ Ba, tháng 7 10, 2012
Việt Nam: “Cải cách hay là chết”
Carl Thayer
-
Câu hỏi: Tại đại hội đảng gần đây, các đảng viên đã loan báo rằng Đảng Cộng sản Việt Nam nên “cải cách hay là chết”, Đảng Cộng sản Việt Nam đã làm gì để cố gắng thực hiện khẩu hiệu mới này, họ đã làm được nhiều điều cho tự do hay dân chủ hóa hay chưa?
Đáp: “Cải cách hay là chết” là một khẩu hiệu lần đầu tiên được nghe trong thập niên 1970 khi hệ thống nhà nước theo kiểu Liên Xô của Việt Nam lên kế hoạch phân phối hàng hóa và dịch vụ cho những người nông dân và công nhân thành thị, nhưng đã bị thất bại nặng nề. “Cải cách” ở Việt Nam hiện có nghĩa là dân chủ tự do hoặc thậm chí có những bước thăm dò theo hướng dân chủ hóa.
Có nghĩa là điều chỉnh theo hướng kinh tế XHCN và hệ thống chính trị một đảng để giữ chế độ hiện hành nắm quyền. Các đại biểu Đảng chủ yếu tập trung vào việc làm thế nào chấm dứt nạn tham nhũng tràn lan hiện đang phổ biến rộng rãi, đã được xác định như là mối đe dọa chính đến tính hợp pháp về chính trị của đảng. Và họ cũng tập trung vào khu vực nhà nước, khu vực có được đặc quyền nhờ vay những món nợ ưu đãi và giá đất tăng cao. Cải cách doanh nghiệp nhà nước bị đình trệ, và các tập đoàn lớn thuộc sở hữu nhà nước, chẳng hạn như Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Quốc gia, Vinashin, Tổng Công ty Hàng hải Quốc gia, Vinalines, đang trong cảnh nợ nần tồi tệ qua việc đa dạng các hoạt động, và đầy dẫy tham nhũng. “Cải cách hay là chết” trong bối cảnh hiện nay có nghĩa là, đưa chuyện nội bộ của Việt Nam vào trật tự, đặc biệt là nền kinh tế, để Việt Nam có thể cạnh tranh sinh lợi trên thị trường toàn cầu.Câu hỏi: Trung tâm quyền lực chính ở Việt Nam là gì? Các đảng viên cấp tỉnh, quân đội hay chính phủ nắm giữ? Quyền lực ở đất nước này được phân bổ như thế nào? Nó ảnh hưởng đến chính trường như thế nào?
Đáp: Trung tâm quyền lực của Việt Nam được trao cho khối đại diện Trung ương Đảng và các thành phần này (tôi đặt tên cho họ) đã được thống nhất đại diện từ năm 1982. Có 4 trung tâm quyền lực: bộ máy đảng gồm Ban Bí thư và các ủy viên Trung ương Đảng; bộ máy chính phủ được chia giữa Chính phủ (Nội các) và Quốc hội, các lực lượng vũ trang và chính quyền tỉnh. Có sự căng thẳng giữa việc sử dụng quyền lực cấp trung ương (cấp quốc gia – Hà Nội) và cấp địa phương (năm thành phố độc lập và các tỉnh). Các lãnh đạo Đảng và Nhà nước ở trung ương phải đối phó với “các vương quốc độc lập” ở cấp địa phương. Điều này có nghĩa là việc áp dụng luật quốc gia đôi khi bị tránh né.
Một trong những ví dụ rõ nhất về căng thẳng sôi sục liên quan đến cam kết của lãnh đạo chính phủ Việt Nam với Hoa Kỳ là tôn trọng tự do tôn giáo, gồm cả việc ngưng bắt buộc từ bỏ tôn giáo. Bất chấp luật pháp quốc gia và các nghị định, các quan chức địa phương vẫn có thể tìm cớ để đàn áp các phong trào tôn giáo độc lập, như phong trào Tin lành ở Tây Nguyên và phong trào Thiên Chúa giáo của dân tộc thiểu số Hmong ở các tỉnh Tây Bắc.
Câu hỏi: Chủ tịch nước và Thủ tướng, ai là người cải cách nhiều hơn? Và điều này ảnh hưởng đến đất nước như thế nào?
Đáp: Cả chủ tịch nước và Thủ tướng là lãnh đạo đảng ở miền nam và đặc biệt ở Thành phố Hồ Chí Minh. Họ thúc đẩy cải cách kinh tế, cho phép doanh nghiệp tư nhân phát triển và thu hút đầu tư nước ngoài. Sự khác biệt giữa họ là những cuộc xung đột cá nhân. Ông Nguyễn Tấn Dũng đã phá vỡ khuôn mẫu của sự lãnh đạo tập thể và nổi lên gần như là một nhà lãnh đạo nổi tiếng. Ông ấy nổi tiếng trên các phương tiện truyền thông cả trong và ngoài nước. Ông Dũng đang trong nhiệm kỳ thứ hai trên cương vị thủ tướng. Ông Trương Tấn Sang tương đối mới với chức chủ tịch nước, mới được bổ nhiệm hồi năm 2011. Trước đó, ông là người đứng đầu Ban Bí thư Đảng. Ông Sang và một số đồng minh của ông đã dẫn đầu chống lại Thủ tướng Chính phủ trong nhiệm kỳ đầu [ông Dũng làm thủ tướng], khi chính sách kinh tế của ông ấy dẫn tới lạm phát rất cao. Triển vọng tăng trưởng của Việt Nam tiếp tục bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 1997-1998. Tôi không chắc chắn “cải cách” hoàn toàn nắm bắt các động lực chính trị hiện tại. Ông Sang và nhóm người của ông quan ngại rằng, nếu các chính sách kinh tế không thay đổi, sẽ có bất ổn xã hội. Nên Thủ tướng Chính phủ bị Bộ Chính trị kiềm chế. Việt Nam đã thông qua một gói kích thích kinh tế chính thức và vượt qua cuộc khủng hoảng toàn cầu.
Động lực chính trị quan trọng là chủ tịch nước muốn có nhiều quyền hành hơn và được tham gia vào một số vấn đề lớn hơn. Ông ấy và Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng cùng chia sẻ mối quan tâm về việc “kiểm tra và cân bằng” thủ tướng.
Câu hỏi: Tôi đọc tin, biết rằng ban [chỉ đạo phòng chống] tham nhũng hiện do đảng lãnh đạo? Đây không phải là một dấu hiệu xấu?
Đáp: Lần đầu tiên khi Nguyễn Tấn Dũng được bầu làm thủ tướng, ông ấy thành lập Ban Chỉ đạo phòng chống tham nhũng với chính ông ấy là người đứng đầu. Ông ấy đã nhấn tất cả các nút để tăng tốc độ điều tra của cảnh sát và các thủ tục tố tụng tư pháp chống lại những vụ bị cáo buộc tham nhũng lớn. Thời gian trôi qua, cao su chạm với mặt đường nên sinh ra ma sát, và động lực chống tham nhũng chậm lại, Thủ tướng phải chịu trách nhiệm về các vụ bê bối tham nhũng khổng lồ trong 2 tập đoàn lớn của chính phủ mà ông ấy kiểm soát trực tiếp. Cuối năm ngoái, ông ấy bị buộc ra trước Quốc hội và nhận trách nhiệm về chuyện Vinashin không trả nợ đúng hạn các khoản vay nước ngoài. Năm nay, ông ấy bị áp lực phải nhận trách nhiệm về việc bổ nhiệm một quan chức đứng đầu Vinalines, đã bị bãi nhiệm trước đó.
Thủ tướng không có khả năng kiểm soát tham nhũng, dẫn đến kết quả là đảng đã loại bỏ ông ấy ra khỏi Ban Chỉ đạo [phòng chống tham nhũng] và để những người do đảng chỉ định kiểm soát. Một vấn đề trong việc trừng trị các vụ tham nhũng lớn là, nó liên quan đến các đồng minh chính trị của các nhà lãnh đạo hàng đầu.
Câu hỏi: Kể từ năm 2011, có một cuộc đàn áp những người sử dụng internet và các nhà hoạt động, chính phủ đang có kế hoạch đưa các luật mới để hạn chế việc sử dụng internet. Vấn đề này ở Việt Nam nghiêm trọng như thế nào?
Đáp: Từ quan điểm của các cơ quan an ninh và các nhà bảo thủ trong đảng, việc sử dụng Internet của các blogger và các mạng xã hội để nêu các vấn đề chính trị và chỉ trích chính phủ, là mối đe dọa lớn đối với khả năng kiểm soát thông tin và sự phổ biến thông tin. Internet cho phép sự xuất hiện mạng lưới liên minh ủng hộ dân chủ của đất nước, được biết đến như khối 8406, lấy tên từ ngày thành lập khối này là ngày 8 tháng 4 năm 2006. Các nhà hoạt động chính [của khối 8406] đã bị bắt và bị cầm tù. Các blogger đã trở nên tích cực trong một phong trào xã hội lớn, phản đối khai thác boxit ở Tây Nguyên, một dự án được sự quan tâm nhất của thủ tướng, liên quan đến đầu tư từ Trung Quốc. Gần đây, các blogger và các nhà hoạt động xã hội đã bắt đầu thúc giục chống Trung Quốc trong tranh chấp Biển Đông. Điều này khơi dậy chủ nghĩa dân tộc chống Trung Quốc. Chính phủ của đảng cảm thấy bị đe dọa vì điều này sẽ làm suy yếu chủ nghĩa dân tộc [mà đảng đã gầy dựng] như điều căn bản về tính hợp pháp cho sự cầm quyền độc đảng.
Mặc dù thực tế là Hoa Kỳ đã nhiều lần cảnh báo Việt Nam rằng, mối quan hệ song phương của họ không thể nâng lên cấp độ cao hơn trừ khi vấn đề nhân quyền được giải quyết, nhưng Việt Nam vẫn tiếp tục đàn áp các blogger. Nói cách khác, các vấn đề được một số người bảo thủ trong đảng xem là quá nghiêm trọng để họ sẵn sàng hủy bỏ các mối quan hệ với Hoa Kỳ (và vì thế đối trọng với Trung Quốc) để đáp ứng các mối đe dọa nội bộ. Sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu năm 1989 và sự tan rã của Liên Xô hai năm sau đó vẫn là bài học sâu sắc mà chủ nghĩa xã hội độc đảng cảm thấy không an toàn để thay đổi.
Câu hỏi: Việt Nam đương đầu với sự suy giảm kinh tế và lạm phát tăng cao như thế nào? Ông có nghĩ rằng áp lực kinh tế có thể đẩy mọi người xuống đường tương tự như những gì thế giới Ả Rập đã chứng kiến?
Đáp: Việt Nam có các kết quả hỗn hợp. Việt Nam có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, hợp lý, chỉ dưới 6%, và lạm phát đã giảm xuống từ tỉ lệ lạm phát cao là 23% trong năm 2008. Xuất khẩu Việt Nam sang thị trường châu Âu và Bắc Mỹ không còn phát triển ở tốc độ như trước đây. Lạm phát chủ yếu ảnh hưởng đến các khu vực thành thị và những người mới phất trong đảng cũng như các cán bộ nhà nước. Những lời than phiền gia tăng về ùn tắc giao thông liên tục, ô nhiễm, cúp điện và chi phí sinh hoạt. Nhưng không có bằng chứng thật sự nào cho thấy, những người này phụ thuộc vào chế độ sẽ xuống đường. Họ đã được hưởng lợi từ hệ thống. Theo quan điểm của họ, hệ thống này không là gì cả trừ chuyện áp bức. Hệ thống chính trị Việt Nam tạo ra quá trình chuyển đổi thế hệ có trật tự. Lãnh đạo Đảng và Nhà nước phải nghỉ hưu ở tuổi 65 và chỉ có thể lãnh đạo nhiều nhất là hai nhiệm kỳ. Những người tuyên truyền cho chế độ ở Việt Nam bám vào tình trạng bất ổn ở nước ngoài như là một bài học cụ thể để cảnh báo công dân của họ – thay đổi quá nhiều sẽ dẫn đến hỗn loạn và bất ổn, và hủy hoại những điều kiện sống mà khó khăn lắm họ mới có được.
Câu hỏi: Chính sách đối ngoại của Việt Nam trong những năm gần đây và đặc biệt đối với Mỹ, đã thay đổi nhiều như thế nào?
Đáp: Đứng trên quan điểm rộng lớn thì chính sách đối ngoại của Việt Nam đã thay đổi hoàn toàn. Việt Nam đã từng có quan điểm nhị phân về thế giới: chủ nghĩa xã hội so với chủ nghĩa đế quốc. Đó là một cuộc đấu tranh sống còn, theo khẩu hiệu “Ai sẽ chiến thắng”. Sau sự sụp đổ của Liên Xô, Việt Nam thông qua chính sách đa dạng hóa, đa phương chính sách đối ngoại của mình để trở thành một đối tác đáng tin cậy cho tất cả các nước. Nếu câu này nghe có vẻ nhàm chán, nhìn vào kết quả: năm 1991 Trung Quốc và Việt Nam bình thường hóa quan hệ sau một thập kỷ đối đầu trong cuộc chiến ở Cambodia; Nhật Bản khôi phục hỗ trợ phát triển nước ngoài [cho Việt Nam], và năm 1995, Việt Nam và Hoa Kỳ bình thường hóa quan hệ và Việt Nam gia nhập ASEAN.
Việt Nam là nước ở châu Á đã được chọn làm ứng viên vào chức ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hiệp quốc và được Đại Hội đồng LHQ bầu với số phiếu áp đảo.
Về quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ: kể từ khi bình thường hóa quan hệ, hai nước đã ký Hiệp định Thương mại Song phương và hiện đang đàm phán để làm thành viên Hiệp ước Đối tác xuyên Thái Bình Dương. Hoa Kỳ là thị trường lớn nhất của Việt Nam. Báo cáo Quốc phòng bốn năm một lần của Mỹ gần đây nhất đã xác định Việt Nam là một đối tác chiến lược tiềm năng. Năm 2010, khi Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đến thăm Hà Nội, bà đã kêu gọi nâng mối quan hệ song phương lên cấp độ mới và đề nghị mối quan hệ đối tác chiến lược. Các cuộc đàm phán hiện đang bị sa lầy vì các vấn đề nhân quyền.
Quan hệ quốc phòng Mỹ-Việt đã phát triển chậm từ năm 2003 khi [hai bên] đồng ý trao đổi các cuộc thăm viếng qua lại giữa Bộ trưởng Quốc phòng [hai nước] ba năm một lần. Bộ trưởng Panetta vừa đến thăm Việt Nam. Từ năm 2003, Hải quân Mỹ được phép cập cảng Việt Nam một lần trong năm. Năm 2010, Mỹ – Việt đã tiến hành các hoạt động hải quân hàng năm đầu tiên (không phải các cuộc tập trận liên quan đến kỹ năng chiến đấu). Năm ngoái, Việt Nam và Hoa Kỳ đã nâng cấp đối thoại chiến lược giữa Bộ Quốc phòng hai nước lên cấp thứ trưởng và đồng ý ký một Bản Ghi nhớ về hợp tác quốc phòng.
Trong chuyến thăm của Bộ trưởng [Quốc phòng Mỹ] Panetta, ông ấy đã được phép đến thăm Vịnh Cam Ranh, căn cứ của Mỹ trước đây. Nhiều năm qua, Việt Nam đã lặng lẽ tiến hành sửa chữa 5 tàu thuộc Bộ Tư lệnh Hải vận Hoa Kỳ (US MSC). Những con tàu này không phải tàu chiến, mà là tàu hậu cần với thủy thủ đoàn là thành phần dân sự. Ba lần sửa chữa gần đây nhất đã được thực hiện ở Vịnh Cam Ranh. Khi ông Panetta gặp người đồng nhiệm phía Việt Nam ở Hà Nội, Việt Nam thông báo rằng họ mở cửa ba khu vực để phục hồi việc tìm kiếm người Mỹ mất tích khi làm nhiệm vụ (MIA), đã bị hạn chế trước đây.
Một trong những điểm trở ngại trong hợp tác quốc phòng là luật pháp Hoa Kỳ ngăn cấm việc bán thiết bị quân sự và vũ khí sát thương cho Việt Nam và cũng hạn chế các quy định liên quan đến nhiều dịch vụ quân sự với Việt Nam. Việt Nam có thể mua một số thiết bị quân sự không sát thương và dịch vụ quân sự trong từng trường hợp cụ thể.
Đề nghị trích dẫn: Carlyle A. Thayer, “Việt Nam: ‘Cải cách hay là chết’“, Thayer Consultancy, ngày 5-7-2012.
Nguồn: Thayer Consultancy
Người dịch: Dương Lệ Chi
Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2012
Cập nhật lúc : Thứ Ba, tháng 7 10, 2012
Niềm vui thêm nhiều bạn
Bùi Tín
-
Năm ngoái tôi có dịp sang phía Đông Hoa Kỳ, gặp nhiều bạn Việt và Mỹ. Vui nhất là gặp một số bạn đồng nghiệp cũ ở báo The Washington Post và Far Eastern Economic Review lâu ngày mới gặp lại. Vui hơn nữa là thăm trụ sở đài phát thanh Tiếng nói Hoa Kỳ VOA trong không khí vui và ấm cúng như trong gia đình. Chúng tôi những người Việt từ châu Âu sang còn đến thăm Đài tưởng niệm hơn 100 triệu Nạn nhân của chủ nghĩa Cộng sản ở khắp năm châu, trong đó có cả đồng bào Việt Nam ta. Đài đặt ngay gần trụ sở Quốc hội. Tôi đã xúc động đặt tại đó một bó hoa huệ trắng.
Hè năm nay tôi ghé thăm các bạn ở phía Tây Hoa Kỳ, vùng Nam và Bắc bang California, được coi là thủ đô của người Việt tỵ nạn. Tôi vui mừng gặp lại một số người thân trong gia đình và một số đông bạn bè tuy mới kết thân trong hơn 20 năm nay mà lại rất gắn bó thân tình.
Tại Nam Cali chúng tôi có cuộc họp sôi nổỉ, bổ ích cùng nhau trao đổi ý kiến về những kịch bản có thể xảy ra để chuyển hóa tình hình từ độc đảng sang dân chủ thật sự ở trong nước, trong bối cảnh Liên Xô và một số nước cộng sản Đông Âu đã sụp đổ hơn 20 năm, phong trào mùa Xuân Bắc Phi và Trung Đông, sự kiện dân chủ hóa Miến Điện. Chúng tôi cũng bàn về việc thông tin, cổ vũ cuộc đấu tranh của đồng bào ta, của nông dân, lao động, trí thức, nhà kinh doanh, thanh niên, bà con các tôn giáo… ở trong nước nhằm giành lại tự do, quyền dân chủ và bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.
Năm nay một số bạn ở San Francisco và San Jose, nơi có đông đảo đồng bào tỵ nạn nhất, có nhã ý tổ chức cho tôi gặp gỡ và nói chuyện với đông đảo bà con ta, trong đó có cả một số rất ít người còn hoài nghi, có người cho đến nay vẫn còn cho Bùi Tín là 'dân chủ cuội', 'cộng sản nằm vùng', 'mũi nhọn của Nghị quyết 36'.
Sau một số buổi nói chuyện chân tình, đối thoại cởi mở, trả lời phỏng vấn đài phát thanh Quê Hương, báo Cali Today, tôi rất mừng thấy được đông đảo bà con ta hiểu rõ thêm và tin cậy quý mến hơn. Nhiều người muốn chụp ảnh kỷ niệm chung và riêng với tôi. Có người còn chờ để hỏi thêm về hoàn cảnh gia đình, cuộc sống hằng ngày, có người bắt tay lâu, rất lâu, tỏ lòng thương cảm sâu lắng, lại có cô trào nước mắt vì xúc động. Tôi ghi nhớ trân trọng mọi biểu hiện của nghĩa tình đậm đà tin yêu ấy.
Với thời gian ngắn ngủi một tuần lễ tôi được tiếp xúc với hơn 400 bạn bè mới mẻ. Những ai thật lòng yêu nước mình, thương dân mình, có lương tâm trong sáng công bằng, đều hiểu rõ tôi hơn, quý mến và tin cậy hơn trước. Đây là món quà quý vô giá tôi mang theo khi tạm xa cộng đồng Cali rất giàu tiềm năng yêu nước, kinh doanh, phát triển và hòa nhập.
Tôi đã gửi lại bà con ta 2 thông điệp tâm huyết nhất. Một là niềm vui sâu sắc thấy so với mươi năm trước bà con ta đã thông cảm hơn với nỗi cực nhục của đồng bào miền Bắc trước đây và của đồng bào cả nước hiện nay dưới sự cai trị hà khắc của chế độ toàn trị độc đảng, tăng thêm vào nỗi uất hận phải rời quê hương tỵ nạn của cá nhân mình, từ đó tăng nghị lực đấu tranh lên với cấp số nhân. Đó là tinh thần đoàn kết thương yêu và thống nhất dân tộc cao quý và thiết thực.
Hai là tôi cũng đề nghị bà con ta có tấm lòng rộng rãi, bao dung, quý trọng những người cộng sản có ý thức dân chủ thật lòng, nhằm khôn khéo phân hóa hàng ngũ đối phương, không có thái độ cố chấp hẹp hòi, luôn tăng thêm lực lượng đấu tranh khi đảng cộng sản đang trong tình trạng khủng hoảng và suy thoái không sao khắc phục nổi.
* Blog của Nhà báo Bùi Tín là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.
Cập nhật lúc : Thứ Ba, tháng 7 10, 2012
Thử bàn về tính liên tục và sự kế thừa giữa các « quốc gia » Việt Nam sau năm 1945.
-
Trong một bài viết trước đây liên quan đến chiến lược biển Đông và chủ quyền của VN ở các quần đảo HS và TS, tác giả có nêu vấn đề về tính liên tục quốc gia và sự kế thừa giữa các chính phủ và hai miền VN sau 1975. Những ý kiến đó hôm nay được bàn rộng thêm.
Trước hết là quan niệm quốc gia (và nhà nước) theo công pháp quốc tế. Với quan niệm quốc gia này, từ năm 1945 đến nay hiện hữu bao nhiêu quốc gia Việt Nam ? Quốc gia nào đại diện nước Việt Nam duy nhứt trước các định chế quốc tế ? Tính liên tục và kế thừa về lãnh thổ giữa các quốc gia này từ các biến cố 1954, hay năm 1975 đến nay đã được thực hiện như thế nào ? Trường hợp đặc biệt, do các tuyên bố và những hành vi mặc nhiên công nhận của nhà nước VNDCCH trong các thập niên 50, 60 và 70 về chủ quyền của TQ ở hai quần đảo HS và TS, các tuyên bố này có giá trị ràng buộc cho nước VN thống nhứt hay không ?
Bài viết này lần lượt trình bày sơ lược quan điểm của tác giả về các vấn đề này.
1. Quốc gia và các nguyên tắc về công pháp quốc tế:
Trước hết nên hiểu thế nào về thuật ngữ « quốc gia » theo quan niệm Công pháp quốc tế.
« Quốc gia – l’Etat » được cấu thành do ba yếu tố : người dân, lãnh thổ và một chính phủ. Yếu tố người dân đặt vấn đề về « quốc tịch – nationalité ». Yếu tố « lãnh thổ » đặt vấn đề « chủ quyền - souveraineté », đưa đến việc phân định biên giới (trên đất liền và trên biển) giữa các quốc gia láng giềng. Yếu tố « chính phủ - gouvernement », tức một tổ chức chính trị có khả năng tổ chức hành chính và thiết lập trật tự và an ninh xã hội cho cộng đồng dân chúng trong quốc gia đó. Yếu tố Chính phủ đặt ra vấn đề « độc lập ». Tức chính phủ này không bị lệ thuộc vào một thế lực nước ngoài.
Công pháp quốc tế hiện nay còn đặt ra tiêu chí xứng đáng về một nhà nước (chính phủ), tức « tư cách - dignité », để có thể công nhận hay không một chính phủ. Một nhà nước « xứng đáng » được đánh giá trên việc có đem lại an ninh và hạnh phúc cho người dân trong nước hay không. Một nhà nước hung tàn, bạo ngược, như nhà nước cộng sản Khmer (Khmer đỏ), nhà nước cộng sản bắc Triều Tiên, nhà nước cộng sản Việt Nam sau 75 (cho đến thập niên 90), Irak dưới thời Sadam Hussein, Serbie dưới thời Milosevic, Lybye dưới thời Khadafi hay Iran và Syrie hiện nay v.v… là các nhà nước không « xứng đáng », thường bị cộng đồng quốc tế (ONU) « lên án », hay cắt đứt ngoại giao, thậm chí còn có bổn phận can thiệp để chấm dứt sự đau khổ của người dân ở các nước này.
Trong quan hệ quốc tế, việc công nhận một quốc gia là hành vi theo đó một quốc gia thiết lập bang giao với một quốc gia khác. Việc công nhận quốc gia là chấp nhận các yếu tố đặc thù về công dân, lãnh thổ và chính phủ của quốc gia đó. Giả sử, khi nước Pháp công nhận nhà cầm quyền Bắc Kinh là chính thống lãnh đạo nước TQ thì Pháp mặc nhiên công nhận một nước Trung Hoa duy nhứt (tức công nhận Bắc Kinh thì không công nhận Đài Bắc) và Tây Tạng là lãnh thổ của TQ.
Việc công nhận quốc gia là quan trọng vì nó xác định sự hiện hữu của một quốc gia trên sân khấu quốc tế. Thủ tục công nhận thể hiện qua các việc trao đổi lãnh sự, ký kết các hiệp ước, hay bằng một tuyên bố đơn phương giữa các quốc gia. Việc công nhận có thể mang tính pháp lý « de jure », tức công nhận quốc gia như là chủ thể duy nhất, bình đẳng về độc lập và chủ quyền trước Công pháp quốc tế. Hoặc « de facto », tức một hình thức công nhận tạm thời cho những quốc gia đang thành hình.
Về nguyên tắc một quốc gia duy nhứt, đại diện quốc gia ở các định chế quốc tế là duy nhứt. Trường hợp một quốc gia bị phân chia, tức có hai vùng lãnh thổ khác biệt, có hai nhóm dân chúng khác biệt (mặc dầu có cùng quốc tịch), do hai chính phủ khác biệt lãnh đạo, thì chỉ có một vùng duy nhứt đại diện cho quốc gia ở các định chế quốc tế. Trường hợp hai miền Nam, Bắc Việt Nam trước 1975, Quốc Gia Việt Nam và sau đó là Việt Nam Cộng Hòa được các định chế quốc tế chấp thuận là đại diện chính thức và duy nhứt cho quốc gia Việt Nam.
Trường hợp quốc gia bị chia cắt (có hai vùng lãnh thổ với hai chính phủ riêng biệt), một nước công nhận chính phủ này thì đương nhiên không công nhận chính phủ kia (và ngược lại). Giả sử, Hoa Kỳ (và nhiều nước khác) trước kia công nhận chính phủ họ Tưởng ở Đài Loan và không công nhận chính phủ ở Bắc Kinh, hay công nhận VNCH và không công nhận VNDCCH.
Đối với LHQ, mỗi quốc gia chỉ có một ghế đại diện. Trường hợp quốc gia chia cắt, đại diện của quốc gia là phía được số phiếu bầu nhiều nhất tại đại hội đồng LHQ, ngoại trừ trường hợp bị các thành viên thường trực trong hội đồng an ninh « phủ quyết - veto ». Chính phủ Tưởng Giới Thạch ở Đài Loan giữ ghế đại diện cho Trung Hoa ở LHQ đến năm 1972 thì bị đại hội đồng truất phế, thay vào đó là chính phủ ở Bắc Kinh, do việc HK không bỏ phiếu phủ quyết. Hai miền Nam và Bắc VN không bên nào có được ghế ở LHQ, do vấn đề chính trị ý thức hệ, mỗi khối ủng hộ một bên. Năm 1957 Liên Xô đề nghị hai miền Nam, Bắc VN đều được chấp nhận vào LHQ, nhưng việc này không được các bên chấp thuận (vì các bên đều giữ nguyên tắc quốc gia duy nhất).
Trường hợp quốc gia có thay đổi chính thể do biến động chính trị (do đảo chánh, cách mạng …), hay một quốc gia mới được khai sinh (do thống nhất hai quốc gia hay hai vùng lãnh thổ, quốc gia ly khai…) việc kế thừa quốc gia sẽ đặt ra nhằm tái xác định, hay phủ định, hiệu lực các kết ước, hay các tuyên bố đơn phương của nhà nước (hay quốc gia) tiền nhiệm đã thể hiện đối với các nước khác.
Một nội các (chính phủ hay nhà nước) có thể được một chính phủ của một nước khác công nhận (hay không công nhận) trong trường hợp nước đó có biến động ảnh hưởng nội tình chính trị (nội các thay đổi do đảo chánh, thay đổi chính thể do cách mạng v.v…).
2. Các quốc gia Việt Nam – sự liên tục và kế thừa
2.1 Quốc Gia Việt Nam (12-3-1945 – 25-8-1945) của Quốc vương Bảo Đại :
Ngày 10 tháng 3 năm 1945 Nhật đảo chánh Pháp, chiếm Đông Dương. Nhân dịp này ông Yokoyama, xưng là đại sứ Nhật, tiếp xúc với ông Bảo Đại, đề nghị trả lại độc lập cho VN. Ngày 12 tháng 3 năm 1945 Bảo Đại tuyên bố độc lập, nội dung đại khái gồm các điểm : « bãi bỏ hiệp ước bảo hộ đã ký với Pháp », « thu hồi chủ quyền độc lập quốc gia » và « theo đường hướng của bản Tuyên ngôn chung của khối Đại Đông Á »… Ngày 17-4-1945, theo ý muốn của Bảo Đại, cụ Trần Trọng Kim thành lập chính phủ.
Dĩ nhiên, thái độ của Nhật không phải là tốt đẹp gì. Nếu họ có hảo ý thì họ đã trả độc lập cho VN từ lúc mới vào VN tháng 8 năm 1940, chứ không phải đợi đến lúc sắp sụp đổ mới làm. Hành động trễ tràng này cho thấy đây là cố gắng cuối cùng của Nhật trước khi thất bại trước quân Đồng Minh. Họ nghĩ rằng, khi lôi kéo được các quốc gia này vào khối Đại Đông Á, Nhật hy vọng xây dựng lại thế lực, nhờ vào lực lượng của các nước mới được độc lập, nhằm củng cố lại quân đội đang trên đà tan rã. Nhưng chỉ vài tháng sau, ngày 16 tháng 8, Nhật Hoàng đọc lệnh cho binh sĩ buông súng đầu hàng.
Hậu quả, ngày 25 tháng 8 Bảo Đại giao ấn, kiếm cho Trần Huy Liệu, đại diện Ủy ban giải phóng, tuyên bố thoái vị. Quốc gia gọi là « Quốc gia Việt Nam » vì vậy cũng kết thúc.
Về tình trạng pháp lý, Quốc gia Việt Nam chỉ hiện hữu vỏn vẹn 5 tháng, từ 12-3-1945 đến 16-8-1945. Đây có phải là một thực thể « quốc gia » đúng nghĩa theo Công pháp quốc tế hay không ?
Khi Nhật đặt chân đến VN trong Thế chiến II, tháng 8 năm 1940, có ký kết với Pháp vẫn để cho Pháp có chủ quyền tại Đông Dương, ngoại trừ phương diện quân sự. Kết ước này không được tôn trọng. Tháng 3 năm 1945 Nhật truất quyền của Pháp ở VN và nắm toàn quyền lãnh đạo. VN được đặt trong khối « Đại Đông Á » của Nhật. Việc Nhật trả độc lập cho VN và sau đó Tuyên bố độc lập của Bảo Đại có giá trị trước công pháp quốc tế. Vì ở thời điểm đó Nhật đã giành chủ quyền VN từ tay Pháp (và trả lại cho Bảo Đại). Chính phủ Trần Trọng Kim là một chính phủ « xứng đáng » so với tiêu chí của Công pháp quốc tế hiện nay. Chỉ trong một thời gian ngắn chính phủ này đã tổ chức hành chánh, thiết lập an ninh trật tự trong xã hội đồng thời thực hiện các công tác cứu trợ cần thiết cho người dân vì VN đang trong thời chiến tranh, chịu sự dội bom, đánh phá của Đồng minh, trong tình trạng thiếu thốn về mọi mặt.
Tuy nhiên, vài tháng sau Nhật đầu hàng. Độc lập và chủ quyền của Việt Nam mà Bảo Đại tuyên bố chưa kịp nước nào công nhận.
(Bảo Đại thoái vị, nhượng quyền cho « Chính phủ cách mạng » của Hồ Chí Minh, có thể do ám ảnh hành động của thủ tướng Thái Plaek Phibulsongkhram. Ông này từ chức, nhường quyền lại cho ông Pridi Phanomyong, nguyên là một giáo sư Luật, là người có khuynh hướng thân Mỹ, chống lại việc hợp tác với Nhật, do lo ngại việc Thái sẽ bị đặt dưới sự bảo hộ của Đồng minh vì nước này đứng về phía Nhật trong thời chiến tranh. Nhưng việc thoái vị này có thể do uy hiếp của nhóm Hồ Chí Minh).
Hành động thoái vị của Bảo Đại cho thấy là sai lầm. Lý ra chính phủ Trần Trọng Kim trụ được cho đến khi Đồng Minh gởi quân vào tước vũ khí của Nhật, vì trên nguyên tắc, lực lượng quân đội Nhật có bổn phận giữ an ninh trật tự trong xã hội cho đến khi quân Đồng minh vào giải giới. Số phận của VN, cũng như các nước bị Nhật chiếm trong chiến tranh, đã được các nước Đồng minh định đoạt trước ở hội nghị Potsdam 1945.
Tranh chấp đảng phái ở VN sau đó là tranh chấp để dành làm đại diện cho VN để đối thoại với Đồng minh.
2.2 Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa của Chính phủ lâm thời (Mặt trận Việt Minh, từ 2-9-1945 đến tháng 12 năm 1946) :
Khi Nhật đầu hàng Đồng Minh 16-8-1945, ở VN đã có một khoảng trống chính trị vì chính phủ Trần Trọng Kim không có thực lực. Việc này có thể do hệ quả của việc không dám dựa vào quân đội Nhật (vẫn còn trách nhiệm giữ an ninh trật tự tại VN cho đến khi Đồng minh vào giải giới), vì sợ kết vào tội làm « bù nhìn » cho Nhật. Trong khi các lực lượng « lưu vong » như Việt Minh của Hồ Chí Minh, Việt Nam Quốc Dân Đảng của Vũ Hồng Khanh, Việt Nam Cách mạng Đồng minh hội của Nguyễn Hải Thần, Đại Việt của Nguyễn Tường Tam… đều nhôn nhao về nước tìm cách nắm chính quyền. Trong đó ông Hồ Chí Minh tỏ ra nắm vững tình hình quốc tế và cao tay về chính trị hơn cả.
Ngày 19 tháng 8 năm 1945 Mặt trận Việt Minh làm « cách mạng », một chính phủ « lâm thời » được Hồ Chí Minh thành lập tại Hà Nội. Việc này chỉ xảy ra vài ngày trước khi quân Trung Hoa của Tưởng Giới Thạch vào Bắc Kỳ, (theo qui định của các nước Đồng minh ở Hội nghị Potsdam). Quân Tưởng gồm hai đạo, vào VN từ hai ngả : từ Quảng Tây vào Lạng Sơn do Tiêu Văn cầm đầu và từ Vân Nam vào Lào Cai do Lư Hán cầm đầu, tổng cộng khoảng 180.000 quân. Hai đạo quân này đi tới đâu thì tước khí giới của Việt Minh tới đó, rồi giao chính quyền quyền cho quân của các đảng phái khác (VNQDD, DV, VNCMDMH) thân Tàu. Hồ Chí Minh lo bị mất quyền, vì thế, từ Hà Nội, ông hô hào tổ chức « tuần lễ vàng », nhằm quyên góp vàng bạc trong dân để có phương tiện đút lót cho các tướng Tiêu Văn và Lư Hán để giữ quyền hành. Nhờ hành vi « lo lót » này, các vị tướng Tàu ngả về ủng hộ Hồ Chí Minh, làm áp lực lên các đảng phái khác (vốn rất chia rẽ, một phe theo Tiêu Văn, một phe theo Lư Hán), ép thành lập « Chính phủ Liên hiệp Lâm thời » ngày 25 tháng 12 năm 1945. Chính phủ này gồm có đại diện của các phe phái tại VN. Quốc hội cũng được tổ chức qua cuộc bầu cử ngày 6 tháng 1 năm 1946. Ngày 2 tháng 3, Quốc hội nhóm họp, tuyên bố « Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến » thành hình, do Hồ Chí Minh làm chủ tịch và Nguyễn Hải Thần làm phó chủ tịch.
Hồ Chí Minh cũng nắm bắt được tin Pháp đang vận động với Tưởng Giới Thạch, trao đổi quyền lợi giữa Pháp và Trung Hoa, để quân Pháp vào thay thế quân Hoa ở miền Bắc (thực ra ở bắc vĩ tuyến 16), theo như qui định của Đồng minh tại hội nghị Potsdam. Trong khi đó, Anh cũng trao quyền cho Pháp ở miền Nam (nam vĩ tuyến 16). Ông Hồ « đón gió » chính trị trước việc này, tìm cách ký kết với Pháp một kết ước, mục đích dĩ nhiên là để được xem là đại diện chính thức của VN. Ngày 28-2-1946 Pháp và Trung Hoa ký kết ước Trùng Khánh thì ngày 6 tháng 3 ông Hồ cũng ký với Pháp một hiệp ước gọi là « hiệp ước sơ bộ ». Theo đó Pháp công nhận VN là một nước « tự do » nằm trong Liên bang Đông dương và Liên hiệp Pháp.
Quốc gia Việt Nam từ thời điểm 2-9-1945 đến khi « hiệp ước sơ bộ » được ký có phải là một quốc gia thực sự ?
Sau khi được Bảo Đại giao ấn và kiếm, biểu tượng uy quyền của vua đối với thần dân trên lãnh thổ Đại Nam, lý ra « chính phủ lâm thời » có tính chính đáng để khai sinh một nước Việt Nam độc lập. Tuy vậy việc này không có giá trị đối với công pháp quốc tế, một mặt do chưa ổn định nội an thì quân Tàu đã kéo qua, mặt khác do hệ quả của « hiệp ước sơ bộ ».
Khi ký hiệp ước sơ bộ, chính phủ của ông Hồ được Pháp công nhận tư cách đại diện một « quốc gia », giới hạn ở Bắc kỳ (đúng ra phía bắc vĩ tuyến 16). Quốc gia đó là quốc gia « Việt Nam tự do – Vietnam libre », đứng trong « Liên bang Đông dương » và khối « Liên hiệp Pháp ».
Vấn đề phải hiểu thế nào là nước « Việt Nam tự do » đứng trong « Liên bang Đông dương » ?
Từ hòa ước Patenôtre 1884 đến tháng 3 năm 1945, toàn Đông Dương (gồm Việt Nam, Lào và Cao Miên) thuộc Pháp. Để dễ bề cai trị, Pháp đặt nền hành chánh thuộc địa tại Việt Nam theo lối « chia để trị ». VN bị phân chia thành ba miền (còn gọi là ba kỳ) riêng biệt. Ba Kỳ cùng Lào, Kampuchia và Quảng Châu Loan (nhượng địa của TQ) được Pháp đặt trong « Liên bang Đông dương – Union Indochinoise », còn gọi là Đông Dương thuộc Pháp hay Đông Pháp. Liên Bang Đông Dương ra đời ngày 17-10-1887, do một Toàn quyền (sau này là Cao ủy) được Pháp bổ nhiệm lãnh đạo. Các « xứ » (tiểu bang) hay các « kỳ » của VN trong Liên bang có tình trạng pháp lý khác nhau. Nam kỳ có qui chế thuộc địa, dân chúng ở đây có chế độ « thuộc dân – sujets français », trực thuộc Bộ Thuộc địa Pháp, do một Tổng đốc (gouverneur) lãnh đạo. Trong khi Trung kỳ và Bắc kỳ (cũng như Lào và Kampuchia) có tình trạng pháp lý là các xứ « bảo hộ », trực thuộc Bộ Ngoại Giao. Dân chúng ở các xứ này có qui chế «dân bảo hộ Pháp - protégés français », là qui chế thấp nhứt (1/ công dân Pháp - citoyens français, 2/ thuộc dân Pháp - sujets français và 3/ dân bảo hộ Pháp - protégés français).
Hiệp ước sơ bộ không hề nói một nước Việt Nam độc lập mà chỉ nói một nước « Việt Nam tự do » thuộc « Liên bang Đông dương » và khối « Liên hiệp Pháp ». Tức ông Hồ chấp nhận « quốc gia » Việt Nam, thực ra là « tiểu bang » hay « xứ », do chính phủ ông lãnh đạo, nằm trong Liên bang Đông Dương, có qui chế pháp lý tương đương với xứ Bắc Kỳ, mà quyền hành của ông còn dưới quyền của Thống sứ Pháp.
Các đảng phái quốc gia lên án ông Hồ việc này là rước Pháp vào lại VN. Nhưng thực ra, có hay không có « hiệp ước sơ bộ » thì Pháp cũng vào lại VN. Cũng như có hay không có các chính phủ của Bảo Đại hay của ông Hồ thì quân Trung Hoa cũng vào Bắc Kỳ. Việc này là do qui định của phe chiến thắng, tức các nước Đồng minh. Khi Pháp và TH ký kết ước trao đổi quyền lợi, Pháp trả các nhượng địa cùng các cơ sở kinh tế của Pháp tại đất TH cho họ Tưởng thì phe này cũng trả lại VN cho Pháp. Chính trị gọi là « đón gió » của ông Hồ, vì ông hiểu biết tình hình quốc tế, biết được định đoạt của Đồng minh về số phận các quốc gia do Nhật chiếm trước chiến tranh, vì thế xông xáo ký kết ước với Pháp. Nhưng việc này cũng kết liễu tính chính thống của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, đồng thời hành động này làm cho các đảng viên trong đảng CSVN nghi ngại lập trường của ông Hồ. Vi việc này mà sau này ông Hồ trở nên rất sắc máu, đúng tiêu chuẩn của một cán bộ quốc tế vô sản, để chứng minh lập trường của mình. Nhưng dầu vậy ông Hồ cũng không được phía cộng sản Nga tin tưởng. Họ nghi ngờ ông Hồ là « cơ hội chủ nghĩa » cho đến khi ông này qua đời năm 1969.
Như thế nước « Việt Nam Dân chủ Cộng hòa » do ông Hồ lãnh đạo không hề là một quốc gia thực sự mà chỉ là một « tiểu bang » trong Liên bang Đông Dương.
Sau khi bị chỉ trích, ông Hồ cố gắng thay đổi thực tế này qua các hội nghị tại Đà Lạt và Fontainebleau, nhưng đều thất bại. Chính phủ của ông Hồ rút khỏi Hà Nội và bước vào cuộc kháng chiến, bắt đầu từ tháng 12 năm 1946. Việc này, ông Bảo Đại phê rằng : Sau thất vọng ở Fontainebleau, (Việt Minh) chỉ còn giữ được uy tín bằng cách đưa cả nước vào biển máu.
2.3 Chính phủ Trung ương Lâm thời Việt Nam (27-5-1948) và Việt Nam Cộng Hòa (26-10-1955 đến 30-4-1975) :
Thế chiến Thứ II chấm dứt, việc này cũng kết liễu các chế độ « thực dân » ở các xứ « thuộc địa » của các đại cường cũ (Anh, Pháp…). Khuynh hướng của Hoa Kỳ, đại cường mới lên, chủ trương bãi bỏ tất cả các chế độ thực dân, do đó khuyến cáo các cường quốc phải trả lại độc lập cho các thuộc địa của mình. Các xứ như Phi, Miến Điện, Nam Dương, Ấn Độ và Pakistan… lần lượt lấy lại độc lập mà không tốn một giọt máu.
Tuy nhiên, tại Việt Nam, một nước Pháp đã kiệt quệ nhưng vẫn muốn giữ quyền lợi và ảnh hưởng của mình. Phía Hoa Kỳ đặt điều kiện cho Pháp, để được sự trợ giúp, phải để cho dân VN thành lập một chính phủ đại diện (nhằm đi đến độc lập và thống nhứt đất nước).
Nội tình VN hỗn loạn, các đảng phái quốc gia không có thực lực lại xâu xé, tranh chấp lẫn nhau. Bên có thực lực là phe của ông Hồ, nhưng là lực lượng là của cộng sản. Phe này tìm cách loại trừ phe kia để độc chiếm sân khấu chính trị. Trong khi nội tình nước Pháp cũng không khá hơn. Chính trị Pháp về Đông Dương chia làm hai khuynh hướng, phe tả thúc hối chính phủ phải thuơng lượng với Hồ Chí Minh. Phe hữu thì đòi phải thuơng lượng với Bảo Đại.
Cuối cùng « lá bài » Bảo Đại được Pháp chọn làm đối tượng đối thoại để thực hiện chính sách mới của họ về thuộc địa nhằm thỏa mãn các điều kiện của Hoa Kỳ.
(Thực ra đây là một lựa chọn theo lối « không chó bắt mèo ăn c. ». Vì ông này không cộng sản và có được tính « chính thống » trước người dân VN. Ông Bảo Đại là một type người ăn chơi đàng điếm, cả cuộc đời chỉ la cà trà đình, tửu quán, sòng bài… không thể là một « chính khách » của một nước thuộc địa đang gay go dành lại độc lập (và thống nhứt đất nước) trong một không gian vô cùng hỗn loạn vì tranh chấp về quyền lợi và chính trị (ý thức hệ) giữa các cường quốc đang nắm vận mạng của cả thế giới. Khi được nắm quyền (Quốc trưởng) ông này chỉ ở bên Pháp, lo ăn chơi chứ không ở lại trong nước để chia sẻ ngọt bùi với quần thần và dân chúng. Ông bị Ngô Đình Diệm hạ bệ là hợp lý. So với ông Hồ Chí Minh thì Bảo Đại thua xa về trí tuệ và tư cách. Nhưng ông Hồ là người vô sản chân chính, đặt quyền lợi quốc tế cộng sản lên trên lợi ích của dân tộc.)
Ngày 27-5-1948 Chính phủ Trung ương Lâm thời Việt Nam được thành lập do Nguyễn Văn Xuân làm thủ tướng, Bảo Đại lên làm « Hoàng Đế, Quốc trưởng ». Ngày 5 tháng 6 năm 1948, chính phủ này ký bản « Tuyên bố chung » với Cao ủy Bollaert ở Hạ Long, theo đó Pháp cam kết : « Pháp long trọng công nhận nền độc lập của Việt Nam, được tự do thực hiện nền thống nhứt của mình. Việt Nam tuyên bố sát nhập vào Liên Hiệp Pháp dưới danh nghĩa một quốc gia liên kết với nước Pháp. »
Nhưng « bản tuyên bố » này bị các thế lực thân thực dân ở Nam kỳ chống đối. Cùng lúc ở Paris, chính giới Pháp phản đối việc này, cho rằng ông Bollaert không có tư cách để nhượng bộ như vậy. Họ lý luận rằng, trong vấn đề Nam kỳ, vì đây là « nhượng địa » của VN cho Pháp. Do đó mọi quyết định liên quan đến Nam kỳ phải do quốc hội biểu quyết.
Nhưng thời điểm này nội tình chính trị nước Pháp không ổn định, nội các thường xuyên thay đổi. Đất nước kiệt quệ do chiến tranh, rất cần các sự giúp đỡ của HK. Nội các mới công bố chính sách Đông Dương vào ngày 19-8-1948, công nhận nội dung tuyên bố Hạ Long. Đến 8 tháng 3 năm 1949, tuyên bố Hạ Long được xác định cụ thể qua lá thư của Tổng thống Vincent Auriol gởi cho Bảo Đại, còn gọi là kết ước Elysée.
Nội dung có nhiều điều cần bàn cãi, nhưng điểm chính là Pháp phải công nhận VN « độc lập » và « thống nhứt ». Đây là một thắng lợi lớn của Việt Nam, là tiền đề để xây dựng một nước Việt Nam độc lập và tự chủ. Cho dầu về một số mặt còn lệ thuộc vào Pháp, nhưng không tốn giọt máu nào, thì đó cũng là cái giá rất rẻ để chấp nhận.
Đối với các định chế quốc tế, Quốc gia Việt Nam của của Bảo Đại đã được chấp thuận đại diện cho nước Việt Nam duy nhứt, gia nhập vào các tổ chức quốc tế như sau :
- Tổ chức Y tế Quốc Tế (l'Organisation mondiale de la Santé - O.M.S.) ngày 17 tháng năm năm 1950.
- Tổ chức Lao động Quốc tế (l'Organisation internationale du Travail - O.I.T.), ngày 21 tháng sáu năm 1950.
- Tổ chức của Liên Hiệp Quốc về Lương thực và Nông nghiệp (l'Organisation des Nations Unies pour l'alimentation et l'agriculture - F.A.O.), ngày 11 thasng 11 năm 1950.
- Tổ chức của Liên Hiệp Quốc về Giáo dục, Khoa học và Văn hóa (l'Organisation des Nations Unies pour l'éducation, la science et la culture - U.N.E.S.C.O.), ngày 21 tháng 6 năm 1951.
- Liên hiệp Quốc tế về Viễn Thông (l'Union internationale des Télécommunications - U.I.T), ngày 24 tháng 9 năm 1951.
- Liên hiệp Bưu chính Thế giới (l'Union postale universelle - U.P.V.), ngày 20 tháng 10 năm 1951.
Năm 1951, ông Trần Văn Hữu, nguyên thủ tướng kiêm bộ trưởng bộ ngoại giao, đại diện Việt Nam đi dự hội nghị San Francisco, ký kết hiệp ước Hòa Bình với Nhật. Nhân dịp này ông đã tuyên bố tại hội nghị về chủ quyền lâu đời của VN tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã bị Nhật chiếm đóng trái phép trong thời kỳ chiến tranh, do đó ông thay mặt quốc gia Việt Nam tuyên bố quyết định thâu hồi hai vùng lãnh thổ này về lại quốc gia Việt Nam. Tuyên bố của ông Trần Văn Hữu không gặp phản đối của nước nào nào tại hội nghị.
Quốc gia Việt Nam với Quốc trưởng Bảo Đại cũng được nhiều nước trên thế giới công nhận, như Hoa Kỳ, tóa thánh Vatican cũng như nhiều nước khác trong thế giới tự do (đến năm 1954 có 35 nước công nhận).
Tháng 6 năm 1954 Ông Diệm về làm thủ tướng. Một tháng sau đất nước bị chia đôi tại vĩ tuyến 17 theo Hiệp định Genève. Ngày 20-10-1955 ông Diệm trưng cầu dân ý truất phế ông Bảo Đại. Ngày 26 tháng 10 năm 1955 đổi tên nước và thành lập chính phủ Việt Nam Cộng Hòa.
Nội dung Hiệp định Genève ký kết giữa Pháp và VNDCCH, xác định nước Việt Nam là duy nhứt, việc phân chia hai miền chỉ là tạm thời. Các định chế quốc tế tôn trọng điều này.
Việc phân chia đất nước, chính phủ Bảo Đại (và Hoa Kỳ) chống đối. Chính phủ Quốc gia Việt Nam (cũng như hai nền cộng hòa của nước VNCH sau này), tôn trọng tính liên tục của quốc gia, cũng không công nhận nhà nước VNDCCH và chủ trương một quốc gia Việt Nam (thống nhứt ba kỳ) và duy nhứt.
Sau 1954, Chính phủ VNDCCH được thành lập ở miền bắc nhưng không đại diện cho quốc gia Việt Nam ở các định chế quốc tế. VNCH, kế thừa di sản của Quốc Gia việt Nam, tiếp tục đại diện cho quốc gia Việt Nam tại các định chế quốc tế đã ghi ở trên. Tức các định chế quốc tế công nhận tính liên tục quốc gia Việt Nam, từ Quốc Gia Việt Nam sang Việt Nam Cộng Hòa.
Để khẳng định, ngày 18 tháng 11 năm 1954, VNCH được chấp nhận cho gia nhập vào Tổ chức Hàng không Dân sự Quốc tế (l'Organisation internationale pour l'aviation civile - O.A.C.L).
Ngày 1 tháng 4 năm 1955 VNCH được chấp nhận cho gia nhập Tổ chức Khí tượng Thế giới (l'Organisation mondiale de la météorologie – O.M.M).
Ngày 21 tháng 9 năm 1956 VNCH được gia nhập Ngân hàng Quốc tế về Tái xây dựng và Pháp triển (la Banque internationale pour la reconstruction et le développement - B.I.R.D.).
Sau 1963, nền Đệ nhứt cộng hòa chấm dứt, nền Đệ nhị cộng hòa kế thừa VNCH, tiếp tục đại diện cho quốc gia VN duy nhứt tại các định chế quốc tế cho đến khi sụp đổ ngày 30-4-1975.
Như thế, tóm lại, từ Quốc Gia Việt Nam 1948 cho đến Việt Nam Cộng Hòa 1975, các quốc gia này đã giữ được tính liên tục và thể hiện sự kế thừa di dản quốc gia từ các triều đại phong kiến, nhà Nguyễn, đến thời kỳ Pháp thuộc.
Nhà nước Quốc Gia Việt Nam đã tuyên bố dành lại HS và TS cho VN tại hội nghị San Francisco năm 1951. Nhà nước VNCH đã đổ máu gìn giữ HS khi quân Tàu xâm lăng năm 1974.
2.4 Quốc gia « Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa » từ tháng 12 năm 1946 đến Hiệp định Genève tháng 7 năm 1954 và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa từ tháng 7-1954 đến 30-4-1975
Từ tháng 12-1946 đến tháng 7 năm 1954 là khoảng thời gian gọi là « chín năm kháng chiến », hay còn gọi là « cuộc chiến Đông dương lần thứ nhứt ». Chính phủ của ông Hồ tuyên bố « tiêu thổ kháng chiến », phá bỏ thành thị, làng xã, rút vào rừng thành lập các khu kháng chiến. Chính phủ của ông Hồ trở thành một « chính phủ kháng chiến » thực sự với ý nghĩa của nó.
Nhưng từ năm 1949, sau khi Tàu Mao thắng Tàu Tưởng, cuộc chiến « kháng chiến dành độc lập » cũng trở thành cuộc chiến để cộng sản Trung Quốc bành trướng ảnh hưởng. Từ tháng 2 năm 1951, đại hội đảng CSVN lần 2, ông Hồ tuyên bố phương pháp chiến tranh là lấy kinh nghiệm chiến tranh cách mạng của Trung Quốc, tư tưởng là lấy tư tưởng của Mao Trạch Đông. Cuộc « kháng chiến dành độc lập » của VN được Mao Trạch Đông hoạch định cùng sách lược với cuộc chiến Triều Tiên, trong chiến lược nhuộm đỏ Châu Á, « gió Đông thổi bạt gió Tây ». Trong cuộc chiến Triều Tiên, phía Trung Cộng đã gởi hàng triệu « chí nguyện quân » đánh giúp Bắc Hàn. Cuộc « kháng chiến thần thánh » dành độc lập của VN đã đổi sang màu « đỏ » của phong trào vô sản quốc tế. Bộ đội ông Hồ, từ quân trang, quân dụng, vũ khí, lương thực cho đến cán bộ chỉ huy, tất cả đều do Trung Cộng cung cấp. Nhờ sự giúp đỡ vô biên của TQ , bộ đội của ông Hồ, cùng với bộ đội của bác Mao, thắng được quân Pháp ở trận Điện Biên Phủ, buộc Pháp ký Hiệp định Genève 1954.
Câu hỏi đặt ra, « quốc gia » Việt Nam DCCH với « chính phủ kháng chiến », từ tháng 12-1946 đến tháng 7-1954, do ông Hồ lãnh đạo có phải là một « quốc gia » đầy đủ ý nghĩa theo Công pháp quốc tế hay không ?
Dĩ nhiên là không ! Một chính phủ kháng chiến luôn là một chính phủ tạm thời. Về lãnh thổ thì chính phủ này chỉ kiểm soát trên rừng rú. Chính phủ này không hề kiểm soát được các tỉnh lớn, không đem lại an ninh và hòa bình cho dân chúng. Trong khi người dân, ngoại trừ những người ở thôn quê hẻo lánh không có điều kiện, hầu như tất cả đều « dinh tê ».
Cuối cùng « kháng chiến thành công », Pháp thua Việt Minh ở trận Điện Biên Phủ, phải ký hiệp định Genève tháng 7 năm 1954. Chính phủ VNDCCH do ông Hồ lãnh đạo vì vậy lấy được một nửa đất nước, tính từ vĩ tuyến 17. Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa hiện hữu trên thực tế (de facto) từ đây.
Nhưng các chính sách của nhà nước VNDCCH đã tố cáo nhà nước này lệ thuộc vào một thế lực ngoại bang. Sau 1954, các chính sách về kinh tế, cách thức tổ chức xã hội, tư tưởng chính trị, văn hóa… thảy đều rập khuôn với các chính sách của Mao Trạch Đông đã áp dụng trước đó tại Trung Hoa lục địa. Các phong trào « cải cách ruộng đất », phong trào « trăm hoa đua nở », phong trào diệt « trí phú địa hào »… áp dụng tại VN đều là ý kiến của cố vấn TQ.
Một nhà nước không vì lợi ích của dân chúng là một nhà nước không xứng đáng. Một nhà nước lệ thuộc vào ngoại bang là một nhà nước không được công nhận theo quốc tế công pháp.
Về lập trường chính trị, chính phủ VNDCCH tuyên bố theo xã hội chủ nghĩa, chủ trương một nước Việt Nam duy nhứt (theo qui định của Hiệp định Genève). Chính phủ VNDCCH không công nhận sự hiện hữu của một chính phủ VNCH ở miền Nam. Chính phủ VNCH bị gán cho là chính quyền ngụy, bù nhìn, do đế quốc lập nên chứ không do nguyện vọng của người dân miền Nam. Chính phủ VNDCCH cũng tuyên bố không công nhận bất một đại diện nào cho VN từ phía VNCH tại các định chế quốc tế. Tức là chính phủ VNDCCH chủ trương một quốc gia VN duy nhứt mà họ là đại diện chính thống.
Chính phủ VNDCCH, trên phương diện công pháp quốc tế, là một chính phủ hiện hữu trên thực tế (de facto) nhưng không được công nhận (de jure). Chính phủ này không hề đại diện nước Việt Nam duy nhứt tại bất kỳ một tổ chức quốc tế nào. Trong khi tư cách đại diện của VNCH tại các tổ chức này thì bị VNDCCH phủ nhận. Lãnh thổ từ vĩ tuyến 17 trở về bắc là lãnh thổ mà tổ chức chính trị của ông Hồ « chiếm » được. Chính quyền họ có trong tay là do « cướp » được.
Những người cộng sản VN rất tự hào về việc này. Họ tuyên bố đoạn tuyệt với quá khứ, không chấp nhận chính quyền thực dân cũng như đả phá các nhà nước tiền nhiệm VN thời phong kiến. Họ tuyên bố sáng lập một nước VN mới. Như thế, vấn đề liên tục quốc gia không đặt ra. Việc kế thừa cũng không đặt ra.
Nhưng khó khăn chỉ đến khi đối diện với thực tế. Sau 1975, vấn đề chủ quyền HS và TS sẽ giải quyết thế nào, khi chính quyền này đã công nhận nhiều lần trong quá khứ chủ quyền HS và TS thuộc TQ ?
Vấn đề về liên tục quốc gia vì thế phải được quan niệm lại, đồng thời với việc kế thừa. Các việc này phải được thực hiện như thế nào để quốc gia VN không mất lãnh thổ (và hải phận) ở hai quần đảo HS và TS ?
2.5 Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam và Chính phủ Cách mạng Lâm thời 20-12-1960 đến 2-7-1976 :
Trong vấn đề « thống nhứt » đất nước, VNDCCH chủ trương « giải phóng miền nam », vì đồng bào miền nam đang quằn quại dưới ánh cai trị bạo tàn của Mỹ-Ngụy. Vấn đề « giải phóng » sẽ được thực hiện bằng bạo lực, bằng cách phát động cuộc chiến tranh cách mạng, hô hào dân miền Nam nổi dậy lật đổ chế độ.
Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam được khai sinh để phục vụ cho chủ trương đó. MT khai sinh ngày 20-12-1960 theo nghị quyết của của Đại hội đảng toàn quốc lần thứ ba của đảng CSVN (lúc đó là đảng Lao Động), được đặt dưới sự lãnh đạo của bộ Chính trị đảng CSVN và Trung ương cục miền Nam.
Mục tiêu của MT là : « đoàn kết các tầng lớp nhân dân, đảng phái, đoàn thể, tôn giáo và nhân sĩ yêu nước không phân biệt xu hướng chính trị để đấu tranh lật đổ ách thống trị của đế quốc Mỹ và tập đoàn Ngô Đình Diệm, tay sai của Mỹ, để thực hiện độc lập, dân chủ, hòa bình, trung lập tiến tới hòa bình thống nhứt tổ quốc. »
Cuộc tổng tấn công tết Mậu Thân 1968, thực hiện theo một nghị quyết khác của đảng CSVN, là một thành công chính trị lớn lao cho đảng CSVN. Con cờ mà họ lập ra, MTGPMN, từ nay được quốc tế biết đến. Chính phủ Cách mạng Lâm thời được thành lập ngày 8-6-1969. Dĩ nhiên VNDCCH cùng các nước trong khối cộng sản lập tức công nhận thực thể chính trị này. Việc này đặt lại tính chính thống của VNCH trước các định chế quốc tế. Nhưng cho đến khi sụp đổ, VNCH vẫn là đại diện duy nhứt cho quốc viê Việt Nam.
Cùng lúc chính trị của Mỹ về vấn đề VN bước vào khúc quanh quyết định. Mỹ muốn « Việt Nam hóa chiến tranh », vì thấy không cần thiết để hiện diện ở VN nữa, sau khi bắt tay được với Mao Trạch Đông qua việc ký kết ước Thượng Hải. Năm 1972, Chính phủ Cách mạng Lâm thời được Mỹ nâng lên ngang tầm với VNCH, để bốn bên Mỹ, CS miền Bắc, VNCH và CPCMLT ký kết hiệp định Paris 1972. HK bắt đầu rút quân khỏi miền Nam đồng thời cúp viện trợ quân sự cho VNCH.
Việc đến phải đến, 30-4-1975 VNCH sụp đổ. VNCH đổi tên thành Cộng hòa miền Nam Việt Nam.
3. Vấn đề kế thừa giữa VNCH và CHMNVN qua khía cạnh đại diện các định chế quốc tế - Vai trò của VNDCCH.
Bộ trưởng bộ Ngoại giao của Chính phủ Cách mạng Lâm thời là bà Nguyễn Thị Bình. Sau khi VNCH sụp đổ, bà Bình đã có những động thái hướng đến các tổ chức quốc tế nhằm kế thừa danh nghĩa của VNCH đại diện cho quốc gia Việt Nam. Ngày 7-5-1975, một điện tín từ Bộ ngoại giao của Cộng hòa Miền Nam Việt Nam đã gởi đến O.M.S, cùng lúc với các định chế quốc tế khác, nội dung tóm lược như sau :
Chính phủ Cộng hòa Miền Nam VN thông báo rằng đã kiểm soát hoàn toàn lãnh thổ Việt Nam. Chế độ cũ ở Sài Gòn đã sụp đổ. Chính phủ Cách Mạng lâm thời là người duy nhứt thực sự đại diện dân chúng miền Nam, có đầy đủ tư cách để đại diện miền Nam Việt Nam tại O.M.S cũng như các định chế quốc tế khác.
Việc « kế thừa » của CPCMLT tại các định chế quốc tế không gặp khó khăn, chỉ đơn giản là việc « đổi tên nước », tại UNESCO vào tháng 7 -1975, U.I.T vào tháng 2 năm 1976.
Điều cần ghi nhận là động thái của VNDCCH qua việc xin gia nhập O.M.S như là « một thành viên chính thức » vào ngày 10 tháng 4 năm 1975. Việc này được đại hội O.M.S chấp nhận ngày 7-5.
Điều cần ghi nhận khác, đại hội O.M.S năm 1976, hai quốc gia VNDCCH và CHMNVN chỉ có một phái đoàn đại diện. Việc này vi phạm điều lệ LHQ, vì một người không thể đại diện cho hai quốc gia. Tuy vậy, việc này cũng được thông qua, với điều kiện, khi phái đoàn phát biểu cho nước nào thì phải để bảng ghi tên nước đó phía trước.
Như thế, trong chừng mực, VNDCCH chấp nhận có hai quốc gia Việt Nam : VNDCCH và CHMNVN, sau ngày 30-4-1975.
Việc thống nhứt đất nước 2-7-1976 như thế là một sự thống nhứt giữa hai quốc gia. Vấn đề kế thừa về lãnh thổ do đó mang một sắc thái chính trị khác.
Sau 30-4-1975, không thấy chính phủ CMLT tuyên bố lời nào về chủ quyền của HS và TS. Cuộc chiến đã được gọi là cuộc chiến « giải phóng », tức cuộc chiến đánh đổ (phủ nhận) chính phủ tiền nhiệm, nhằm tháo gỡ cùm gông kìm kẹp dân chúng. Do đó không có vấn đề « kế thừa » lãnh thổ, mà chỉ có vấn đề « giải phóng », tức chiếm lại. Một số đảo ở TS đã được thể hiện như thế (de fact). Danh nghĩa chủ quyền của VN tại HS và TS do đó vẫn chưa được thụ đắc (de jure)
Đến nay, các mặt nạ lần lượt rơi xuống. Mọi người đều biết MTGPMN là con đẻ của đảng CSVN, chứ không hề do nhân dân miền Nam thành lập để « vùng lên » chống áp bức. Các cán bộ lãnh đạo MT đều là đảng viên của đảng CSVN. Những lãnh đạo CSVN hiện nay, những người trong MTGPMN cũ, đều là thành viên TU của đảng CSVN. MTGPMN với đảng CSVN chỉ là một.
Ý kiến của VNDCCH về HS và TS trong chừng mực cũng là ý kiến của CHMNVN. Mà ý kiến đó là công nhận chủ quyền của TQ tại HS và TS.
Sự thật lịch sử là như thế, vấn đề đặt ra, nước CHXHCNVN sẽ kế thừa chủ quyền ở hai quần đảo HS và TS của VNCH như thế nào ?
------------
Ghi chú : Một số dữ kiện ở phần 2.3 và 3 dẫn từ bài « La représentation du VietNam dans les institutions spécialisées » của bà Joële Nguyên Duy-Tân. In: Annuaire français de droit international, volume 22, 1976. pp. 405-419.
http://www.persee.fr/web/revues/home/prescript/article/afdi_0066-3085_1976_num_22_1_1996
Theo: Blog Trương Nhân Tuấn
Cập nhật lúc : Thứ Ba, tháng 7 10, 2012
Xe pháo mã trên bàn cờ Luật Biển

Trương Tấn Sang thông qua luật Biển Việt Nam như thế nào?
Nguyễn Nghĩa
-
Đấu tranh hậu trường để Luật Biển được thông qua là vô cùng khó khăn bởi cản trở của Trung Quốc, của phe Nguyễn Phú Trọng. Nguyễn Phú Trọng là cản trở lớn nhất việc thông qua Luật Biển tại Quốc hội VN. Tổng Trọng cũng là phát ngôn cho quyền lợi TQ tại Quốc hội VN. Đầu tiên phải đánh gục Trọng. Giải quyết được Trọng, thì giải quyết Thủ tướng tham nhũng, chỉ cần dùng chân trái mà thôi...
1. Ý nghĩa chính trị và pháp lý của Luật Biển VN
Luật Biển VN qui định vùng lãnh hải của Nhà nước VN. Luật Biển Việt Nam là bộ luật làm cơ sở cho mọi hoạt động của nhà nước Việt Nam trên lãnh hải của mình.
Nó cũng là cơ sở pháp lý để nhà nước Việt Nam thương lượng trong những tranh chấp có thể xảy ra, hay đã xảy ra rồi, nhưng chưa có kết quả thương lượng, chẳng hạn sự kiện Trung Quốc đã chiếm đóng Hoàng Sa và 9 đảo tại Trường Sa của Việt Nam.
Do lý do bản công hàm 14/9/1958 của Phạm Văn Đồng, do áp lực của Trung Quốc mỗi khi Việt Nam muốn có Luật Biển nên cho đến trước 21/6/2012, Việt Nam vẫn chưa có Luật Biển.
Việc này đã làm yếu vị thế của Việt Nam trước con mắt quốc tế, trong các tranh chấp trên Biển Đông.
Chỉ đơn giản nhắc lại rằng: mặc dù 51 quốc gia nhóm họp ở San Francisco Mỹ 1951, đã bác bỏ đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc trên 2 quần đảo Hoàng Sa, Trương Sa, và công nhận chủ quyền của Việt Nam trên 2 quần đảo ấy, thì nội dung công hàm 4/9/1958 của Chu Ân Lai khẳng định chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa, Trường Sa cũng vẫn được Quốc Hội Trung Quốc thông qua.
Nói cách khác, Trung Quốc chẳng thèm để ý quyết định của 51 quốc gia khác trên thế giới, chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa, Trường Sa đã được Quốc Hội, tức đại diện cho 600 triệu người Trung Quốc hậu thuẫn.
Sau đó năm 1992, khi đã tặng được cho Việt Nam 16 chữ và 4 điều tốt, họ ra Luật Biển TQ, công nhiên khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa thuộc lãnh hải Trung Quốc.
Không có luật Biển qui định rõ ràng lãnh hải của Nhà nước VN, cuộc chiến đấu dành lại Hoàng Sa, Trường Sa ở mọi phương diện: nhà nước, khoa học, pháp lý, dư luận dân chúng,... đã gặp rất nhiều khó khăn.
Ta chỉ đơn cử việc chính nhà nước Việt Nam bắt bỏ tù tất cả những ai đã viết trên nón đội HS-TS-VN. Thử hỏi trong tình huống đàn áp như vậy, có người trí thức Việt Nam nào dám thảo luận, dám suy nghĩ về Hoàng Sa, Trường Sa.
Trong tình hình xâm nhập kinh tế ngày càng mạnh của Trung Quốc vào Việt Nam, Trung Quốc đã có thêm vũ khí mới: dùng tiền để lũng đoạn chính trường Việt Nam, ngăn cản Việt Nam thông qua luật Biển.
Luật Biển VN được thông qua với Điều 1 khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa sẽ buộc Trung Quốc phải thượng lượng với Việt Nam về vấn đề vô cớ chiếm đóng trên toàn bộ quần đảo Hoàng Sa từ 19/1/1974, và 9 đảo của VN tại Trường Sa từ 1988, 1992.
Đây là điều mà Trung Quốc hoàn toàn không muốn. Từ 1974 tới nay, Trung Quốc vẫn khăng khăng một mực tuyên bố không có vấn đề chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa.
Bây giờ, Quốc hội VN đại diện cho ý chí của 90 triệu người Việt Nam tuyên bố: Hoàng Sa, Trường Sa là máu của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam, là 2 quần đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Vậy câu hỏi đặt ra là: Tại sao quân đội TQ lại chiếm đóng nhiều vị trí thuộc lãnh hải Việt Nam từ 1974 đến nay?.
Nếu TQ cứ khăng khăng một mực như cũ, không chịu đàm phán, thì chỉ có một hệ quả: Trung Quốc có dã tâm xâm lược vĩnh viễn Hoàng Sa và 9 đảo Trường Sa của Việt Nam.
Đối với xâm lược, quyền đánh trả tự vệ để bảo vệ sự bất khả xâm phạm của biển, trời, đảo, lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam là quyền tự vệ thiêng liêng của dân tộc Việt Nam, điều này hoàn toàn không mâu thuẫn với chủ trương đàm phán hòa bình về những tranh chấp lãnh hải, lãnh thổ.
Quân đội Việt Nam, sau sự kiện Luật Biển VN được thông qua tại Quốc hội VN, đã có hậu thuẫn của 90 triệu nhân dân Việt Nam, của luật tự vệ thiêng liêng của các dân tộc trên thế giới chống ngoại xâm, đã được LHQ công nhận, trong những kế hoạch giải phóng vũ trang hoàn toàn Hoàng Sa, 9 đảo Trường Sa hiện bị TQ chiếm giữ.
Điều này giải thích tại sao Trung Quốc đã áp lực rất mạnh trong khi Quốc hội VN họp bàn kín với đề xuất hoãn đến khi Trung Quốc họp đại hội Đảng CS của họ xong. Trung Quốc muốn câu thời gian để lũng đoạn chính trường Việt Nam, để không bao giờ Việt Nam có thể thông qua Luật Biển được.
Hôm nay, đối với những người Việt Nam yêu nước, mong muốn này của TQ là không tưởng, nhưng với ban lãnh đạo bành trướng TQ, ảo vọng của họ vẫn rất lớn.
Kẻ để cho TQ nuôi ảo vọng có thể thần phục được Việt Nam trong một thời gian dài, có thể 1000 năm, có thể là vĩnh viễn, chính là Nguyễn Phú Trọng, Tổng bí thư đảng CSVN.
Nhân vật thân Trung Quốc này, đã tìm chỗ dựa tại Trung Quốc bằng câu nói nổi tiếng: "Biển Đông là yên tĩnh" đã leo lên ghế cao Tổng bí thư của đảng CSVN.
Nhân vật này khi còn là Chủ tịch Quốc hội VN khóa trước, luôn đưa vấn đề Biển Đông ra khỏi chương trình nghị sự của Quốc hội VN.
Tình hình, như mô tả trên, đã đặt vấn đề thông qua luật Biển tại Quốc hội VN lúc này, như là một việc chưa khả thi, nếu không nói là vô khả thi.
Ngày 21/06/2012, tin nóng: Quốc hội VN đã thông qua Luật Biển với điều 1 khẳng định chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa, Trường Sa.
Hiển nhiên, đằng sau việc thông qua luật Biển tại Quốc hội là những đấu đá bất tận, nhưng mưu mẹo ép nhau giữa các đấu thủ chính, đã quen với công luận nhiều năm nay: TBT Nguyễn Phú Trọng, CT nước Trương Tấn Sang, TT Nguyễn Tấn Dũng.
Trước khi đi vào một phán đoán, những gì đã xảy ra sau cánh gà sân khấu chính trị Việt Nam, ta nhắc lại giá trị của 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa với Tổ quốc Việt Nam.
1. Vị trí chiến lược và nguồn tài nguyên giàu có của Hoàng Sa, Trường Sa
Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa gần như nằm giữa Biển Đông, có nguồn tài nguyên phong phú và vị trí chiến lược vô cùng quan trọng đối với Tổ quốc Việt Nam.
Quần đảo Hoàng Sa gồm trên 30 đảo, đá, cồn san hô, bãi cạn nằm ở khu vực biển giữa vĩ độ 15o45'B-17o15'B xác định 1 vùng biển rộng khoảng 16.000km2, cách đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi VN) khoảng 120 hải lý, cách đảo Hải Nam (Trung Quốc) khoảng trên 140 hải lý.
Toàn bộ diện tích nổi của Hoàng Sa là khoảng 10km2, đảo lớn nhất Phú Lâm có diện tích 1, 5km2.
Quần đảo Trường Sa nằm phía Đông-Nam Biển Đông, gồm trên 100 các đảo, đá, cồn san hô, bãi cạn, và bãi ngầm trên vùng biển rộng khoảng 180.000km2, cách Cam Ranh (Việt Nam) khoảng 248 hải lý, được chia thành 8 cụm đảo có tên: Song Tủ, Thị Tứ, Loại Ta, Nam Yết, Sinh Tồn, Trường Sa, Thám Hiểm và Bình Nguyên.
Toàn bộ diện tích nổi của quần đảo khoảng 10 km2. Đảo Ba Đình có diện tích lớn nhất, đảo Song Tử Tây cao nhất (khoảng 4-6m).
Khu vực biển, trời mà 2 quần đảo này án ngữ có nhiều tuyến hàng hải, hàng không quan trọng đi qua. Nhiều quốc gia phụ thuộc có tính sống còn vào các tuyến hải lộ này như Nam Hàn, Xingapor, Nhật Bản..
Đối với Việt Nam, đây là phên dậu, án ngữ đường biển tiến vào duyên hải Việt Nam.
Theo đánh giá mới đây của Trung Quốc, chỉ tính riêng trữ lượng dầu hỏa của Biển Đông, trữ lượng này có thể đáp ứng trên 30 năm cho nền kinh tế Trung Quốc với mức tiêu thụ hiện nay.
Ta thử làm phép tính xem trữ lượng này đủ cho nền kinh tế Việt Nam trong bao nhiêu năm.
GDP của Trung Quốc 2011 khoảng gần 6000 tỷ Đô la, GDP của Việt Nam khoảng 130 tỷ đô la. Nghĩa là kinh tế Việt Nam tiêu thụ lượng dầu hỏa kém TQ quãng 45 lần. Điều này có nghĩa là lượng dầu hỏa phục vụ cho kinh tế TQ trong 1 năm, sẽ đủ cho kinh tế VN trong 45 năm.
Nếu lượng dầu hỏa dự trữ trên Biển Đông đủ cho kinh tế TQ 30 năm thì lượng dự trữ này đủ cho kinh tế VN trong vòng: 45 * 30 = 1350 năm.
2. Điểm mặt 3 võ sĩ chính
Trên chính trị đài Việt Nam, có 3 võ sĩ sáng giá nhất: Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang.
Nguyễn Phú Trọng là chuyên gia của giả vờ, giả lú, giả yếu, giả kinh điển, giả hòa hoãn. Nhờ biết ngậm hột thị trong mồm, nên ông ta lách được giữa các cuộc đấu đá, nhờ cái bằng tiến sĩ, thông thạo kinh điển Mác-LêNin, mà ông ta được giữ các chức vụ quan trọng của đảng CSVN.
Nguyễn Phú Trọng đã tỏ rõ bản lĩnh chính trị của mình khi tung ra khẩu hiệu: “Biển Đông là yên tĩnh”, để tập hợp lực lượng dưới ngọn cờ này. Lúc này ông ta không còn lú nữa, mà đã là người của Trung Quốc trong đảng CSVN. Lực lượng này đã đưa Nguyễn Phú Trọng lên vị trí đầu con rồng quyền lực, chức TBT đảng CSVN.
Trước tháng 1/2011, Trung Quốc còn nhấp nhổm, nửa kín nửa hở về "lợi ích cốt lõi của TQ tại Biển Đông", nhưng chưa bước vào kế hoạch bành trướng trắng trợn như từ cuối 5/2011, từ sự kiện cắt cáp tầu Bình Minh 2 và VIKING 2. Do Bộ Chính trị đảng CSVN đã nhận 16 chữ và 4 tốt nên đại bộ phận các đảng viên vẫn coi TQ như đồng chí tốt.
Từ sự kiện cắt cáp tầu Bình Minh 2, tuyên bố địa điểm cắt cáp trong lãnh hải 200 hải lý thuộc EEZ của Việt Nam là lãnh hải TQ.., 11 cuộc biểu tình chống Trung Quốc đã thức tỉnh lòng yêu nước bị ru ngủ của nhân dân Việt Nam. Bản tuyên bố chung của Nguyễn Phú Trọng ngày 15/1/2012 với TQ đã bị các trang mạng dân chủ soi rọi và vạch rõ những mưu kế thâm độc của TQ nhằn ly khai biên giới phía bắc của VN, đã khẳng định chủ ý bán nước hoàn toàn của bè lũ Trọng.
Những tráo ngôn, xảo ngữ như "Đứng trên tầm cao quan hệ, tầm cao đại cuộc"... hay “...tình hữu nghị đời đời Việt-Trung là tài sản quý báu chung của hai Đảng, hai nước và nhân dân hai nước, cần được không ngừng củng cố, phát triển, truyền mãi cho các thế hệ mai sau” hay “Hai bên khẳng định, Việt Nam và Trung Quốc tiếp tục kiên trì phương châm “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và tinh thần “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt,” từ tầm cao chiến lược và tầm nhìn toàn cục”... đã bị nhân dân Việt Nam bóc trần là tay sai, bán nước cho giặc xâm lược Trung Quốc.
Đặc biệt giọng lưỡi giáo điều Mác-Lênin bao năm qua đã giúp ông ta leo dần lên tột đỉnh quyền lực tại VN, đã làm hại ông ta, khi Nguyễn Phú Trọng thuyết giảng tại Cu Ba về CNXH.
Dùng tuyên truyền giáo điều ngô nghê của 3 thập niên trước về CNXH, Nguyễn Phú Trọng định mượn nó để trở thành lãnh tụ thế giới của phong trào cộng sản quốc tế chỉ còn gồm VN, Cu Ba, Bắc Triều Tiên và TQ.
Điều ngớ ngẩn này của Trọng đã làm giảm uy tín của Trọng ngay trong hàng ngũ lãnh đạo Việt Nam.
Tuy vậy, nếu Nguyễn Phú Trọng dùng kỷ luật đảng, yêu cầu các đại biểu Quốc hội là đảng viên bỏ phiếu theo ý chỉ của TBT, BCT thì ta hỏi: Luật Biển VN có được thông qua tại Quốc hội ngày 21/6 vừa qua hay không? (QH VN có trên 90% là đảng viên ĐCS VN)
Đấy là ta chưa tính đến yếu tố Nguyễn Tấn Dũng trong bàn cờ quyền lực này.
Nguyễn Tấn Dũng nhờ những mánh lới biến quyền lực thành tiền, biết quà cáp các vị tiền bối cao cấp nên leo đến chức Thủ tướng. Đối với vị Thủ tướng này, kiếm tiền là trên hết, nên thỉnh thoảng ông ta cũng có tuyên bố về chủ quyền Biển Đảo VN.
Trương Tấn Sang thì nổi tiếng với cụm từ "cả đàn sâu thì làm chết cái đất nước này".
Trong 3 nhân vật trên, thì Nguyễn Phú Trọng với bản chất, khả năng, cương lĩnh chính trị: Biển Đông yên tĩnh, chắc sẽ không ủng hộ việc Luật Biển thông qua trong kỳ họp Quốc Hội này, không những thế, Trọng sẽ là người bảo vệ trung thành lợi ích của TQ tại Bộ Chính trị của đảng CSVN.
Nguyễn Tấn Dũng thì có thể gật cho thông qua Luật Biển, nhưng điều kiện là ông ta thu được lợi gì.
Chỉ có thể còn lại giả thiết là: Trương Tấn Sang đã đạo diễn việc thông qua từ A đến Z luật Biển tại Quốc Hội VN ngày 21/6/2012.
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã có kế hoạch với Tiên Lãng, với Hải Phòng và với Văn Giang, Hải Hưng.
Để chắc chắn thành công, theo thói quen quân sự, Thủ tướng cần dự trữ thêm uy tín của mình trước khi xung trận, như một lực lượng dự trữ chiến lược.
Mà tự nâng uy tín cho mình, không gì bằng cất tiếng nói về Hoàng Sa, Trường Sa.
Mà cất tiếng nói về Biển đảo VN, thì không nói ở đâu bằng nói trước Quốc Hội VN. Truyền hình VN, truyền thông VN, báo chí VN... sẽ đưa tin.
Thế là có bài phát biểu của Thủ tướng ngày 25/11/2011 tại Quốc hội VN, về chủ quyền của Việt Nam tại 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.
Nước cờ này của Dũng là bất ngờ với CT nước và TBT ĐCS VN. Chúng ta có thể thấy trên tivi VN truyền hình hôm đó, cảnh Nguyễn Phú Trọng vỗ tay miễn cưỡng ra vẻ ủng hộ thủ Dũng.
Đã có nhiều người yêu nước lầm tưởng rằng: chính lòng yêu nước đã giúp Thủ tướng đã vượt qua tệ sùng bái cá nhân đối với Hồ Chí Minh, người đứng sau Phạm Văn Đồng, gián tiếp chịu trách nhiệm về nội dung của công hàm bán Biển Đảo của Đồng ngày 14/9/1958 gửi Chu Ân Lai.
Không phải như vậy, Thủ tướng Dũng làm tất cả để chỉ thu lợi cho mình. Và món lợi này là món lợi 2,5 tỷ đô la Mỹ, món lợi này có tên Văn Giang Hải Hưng.
Thực ra, TBT và CT nước bị bất ngờ, vì nước đi này của Thủ tướng, nhất là Nguyễn Phú Trọng. Tuy nhiên, không có lý do gì để cản, hay khiển trách Dũng được. Không có nghị quyết nào không cho phép ủy viên Bộ chính trị không được phát biểu về Hoàng Sa, Trường Sa.
Thế là sau đó, để không dành hoàn toàn tiếng yêu nước cho riêng Dũng, ta thấy Trọng cũng nói về chủ quyền Biển Đảo là bất khả xâm phạm, nói một cách chung chung tại hội nghị về ngoại giao VN lần thứ 27 ngày 12/12/2011 với khẳng định: "tích cực hội nhập quốc tế với nguyên tắc xuyên suốt là lợi ích quốc gia, dân tộc là ưu tiên cao nhất."
Còn Chủ tịch nước Trương Tấn Sang phải làm một tua du lịch bất đắc dĩ tới Thác Bản Giốc cuối năm 2011.
Cái chút uy tín mà Dũng cần thêm ấy, thực ra dính tới chuyện gì? Hôm nay, thì ta đã biết uy tín ấy là để dùng cho phiên tòa sử Vinashin tại Hải Phòng và chuyện cưỡng chế đất ở Văn Giang, Hải Hưng. Phiên tòa xử vụ Vinashin tại Hải Phòng là chính thức về mặt pháp lý đóng lại hồ sơ tham nhũng của Thủ tướng tại tập đoàn này. Thế nhưng không may cho Thủ tướng là giữa chừng lại nẩy ra vụ Đoàn Văn Vươn, Tiên Lãng, Hải Phòng.
Một lần nữa, Nguyễn Tấn Dũng lại lộ bộ mặt láu cá láu tôm, chơi con bài "để lâu thì cứt trâu phải hóa bùn", đối với vụ cưỡng chế 40 ha đầm hải sản của anh Vươn, nhưng bị anh Vươn chống lệnh bằng súng, đạn tự chế.
Trong khi một số người hy vọng vào một Thủ tướng hiểu biết lẽ phải, biết đứng trên tầm cao của nhiệm vụ, sẽ nhân vụ Tiên Lãng, nhân những tiếng súng hoa cà, hoa cải của anh Đoàn Văn Vươn nổ, mà cải cách những bất cập về chính sách công hữu đất đai, nhằm giảm thiểu mâu thuẫn to lớn vì những bất cập do cái gọi là "sở hữu toàn dân", mà thực chất đất đai trở thành sở hữu riêng của tầng lớp quan lại cộng sản.
Thực tế thêm một lần nữa chứng minh đây không phải là một Thủ tướng có tài kinh bang tế thế, vì nước, vì dân. Đây đã là một Thủ tướng trước sau như một chỉ tính toán tư lợi cho riêng mình.
Thủ tướng đang tính gì lúc này?

Thưa với bạn đọc rằng: Thủ tướng đang tính các con số chỉ ra mối lợi thu được, sau cưỡng chế Văn Giang, Hải Hưng.
Người dân Văn Giang được đền bù quãng 135.000 đông/m2. Giá đất hiện tại là hơn 70 triệu /m2.
Ta thấy: 1 ha=100a, 1 a=100m2, vậy 1ha=10.000m2.
Dự án Ecopark chiếm 70ha, vị chi là 70*10000m2= 700.000m2.
Lấy giá 1 m2 là 70 triệu đồng, giá của cả mặt bằng là 70 triệu* 700.000m2=49.000.000 triệu đồng, tức là 49.000 tỷ đồng, tương đương với gần 2 tỷ rưỡi đôla.
Để bạn đọc hình dung ra giá trị của 2,5 tỷ đô la, tôi cung cấp thông tin sau: Vào những năm cuối thập kỷ 70, ĐCS VN Việt Nam đưa ra, như điều kiện tiên quyết cho bình thường hóa quan hệ Việt-Mỹ, là 2 tỷ đô la.
Hoa Kỳ từ chối điều kiện này. Thế là quan hệ Việt-Mỹ đóng băng.
Trung Quốc lợi dụng sự cô lập của Việt Nam đã gây nên chiến tranh giết hại thảm khốc hơn 300.000 nhân dân Việt Nam tại các tỉnh biên giới Việt-Trung 1979 và hủy toàn bộ hạ tầng cơ sở kinh tế của các tỉnh này.
Như vậy 2 tỷ đô la là giá đền bù cho cả 1 cuộc chiến tranh thảm khốc 1964-1975.
Hai tỷ đô la cũng là giá đã phải trả cho một cuộc chiến tranh biên giới "Dạy cho Việt Nam một bài học" của Trung Quốc. Bởi vì nếu Việt Nam không đặt điều kiện đền bù chiến tranh, thì quan hệ Việt-Mỹ đã được bình thường và chiến tranh biên giới có thể đã không xảy ra.
Nguyễn Tấn Dũng và tập đoàn xơi ngon ơ 2,5 tỷ đô la.
Hôm nay, khi Luật Biển VN đã được thông qua với bao bất minh: Nội dung Luật Biển chưa được chuyển tải đến công luận một cách chính thức, chỉ được nêu một cách mập mờ về khả năng sửa đổi, làm chính xác vài qui định,... ngày hiệu lực của Luật Biển là xa vời: 1/1/2013, như một thái độ chiều lòng Trung Quốc, trong đòi hỏi của họ: lui việc thông qua Luật Biển VN tại Quốc hội VN đến khi Đại hội đảng CSTQ họp xong vào cuối năm.
Việc 4 đại biểu quốc hội không tham gia cuộc bỏ phiếu, và 1 đại biểu bỏ phiếu trắng cho Luật Biển nói lên nhũng đấu đá đá đến phút chót của chóp bu Bộ Chính trị đảng CSVN.
Hôm nay, toàn dân Việt Nam đã chứng kiến những phản ứng điên cuồng của Trung Quốc sau khi Quốc hội VN thông qua luật Biển VN. Cùng trong ngày 21/6/2012, Bộ Ngoại giao TQ triệu đại sứ VN tại TQ để phản đối Luật Biển VN. Trung Quốc ngang nhiên trả đũa bằng chính thức thông qua thành lập thành phố Tam Sa, huyện lỵ hành chính của Hoàng Sa, Trường Sa. Quốc hội TQ còn kêu gọi Quốc hội VN sửa lại điều "sai, trái" trong Luật Biển VN. Tập đoàn dầu khí Hải Dương TQ (CNOOC) lên tiếng mời chào đấu thầu 9 lô thăm dò dầu khí trong lãnh hải 200 hải lý EEZ của Việt Nam...
Nguy hiểm hơn, TQ còn cho 4 tầu hải giám của họ truy đuổi tầu cảnh sát biển VN khi tầu này thực hiện hoạt động chức năng tại lãnh hải Trường Sa của Việt Nam.
Trung Quốc đã thách thức Việt Nam: Nếu tuân thủ Luật Biển, bảo vệ lãnh hải theo Luật Biển VN sẽ xảy ra chiến tranh với họ.
Căn cứ vào những phản ứng điên cuồng này, ta có thể suy đoán rằng: Đấu tranh hậu trường để Luật Biển được thông qua là vô cùng khó khăn bởi cản trở của Trung Quốc, của phe Nguyễn Phú Trọng.
Vậy CT nước Trương Tấn Sang đã làm những gì để đạt được mục đích của mình, thuận với lòng dân?
3. Ngọn cước song phi Trương Tấn Sang
Nguyễn Phú Trọng đã tiến hành chỉnh đảng một cách khôn khéo. Ông ta kéo Trương Tấn Sang vào cùng phía để đập Dũng. Mà Nguyễn Tấn Dũng thì cứt dính đầy mình từ Vinashin tới Vinalines.
Chỉnh đảng đang quay theo tiến trình riêng của nó.
Nguyễn Tấn Dũng đã dao động và bắt buộc phải liếc tình sang phe Trọng: Nhận ái nữ của Tô Huy Rứa, cánh tay phải của Trọng vào một Tổng công ty nhà nước Vinaconex, trong lúc Tô Linh Hương vừa ra trường có 24 tuổi đời.
Nhận ra mối nguy của liên minh Dũng-Trọng, Trương Tấn Sang quyết định dùng miếng tuyệt chiêu, chỉ dùng trong tình huống sống, chết: cú cước song phi. Đây là chiêu chân mạnh sẽ đá kẻ mạnh, chân yếu sẽ đá kẻ yếu hơn. Đặc điểm của chiêu này là phải nhanh, mạnh và trúng huyệt tử của các đối phương. Nếu không đánh cho những kẻ địch kia gục xuống, thì khả năng phản công của chúng sẽ phục hồi trở lại.
Tình thế sẽ trở nên không có lợi cho người ra chiêu.
Chân phải mạnh, Trương Tấn Sang phi vào mặt Nguyễn Phú Trọng.
Có lý.
Nguyễn Phú Trọng là cản trở lớn nhất việc thông qua Luật Biển tại Quốc hội VN. Tổng Trọng cũng là phát ngôn cho quyền lợi TQ tại Quốc hội VN. Đầu tiên phải đánh gục Trọng. Giải quyết được Trọng, thì giải quyết Thủ tướng tham nhũng, chỉ cần dùng chân trái mà thôi.
Ngày 24/5 trên không gian mạng, lan truyền bài viết "Trò chuyện với tướng Đặng Quốc Bảo và cựu TBT Lê Khả Phiêu" với giới thiệu của Nguyễn Thanh Giang, một nhà dân chủ nổi tiếng từ lâu.
Lời giới thiệu viết: "Tuần qua ở Hà Nội có tán phát một bản viết tay ký tên QHL. Theo điều tra, đây chính là chữ của đại tá Quách Hải Lượng. Dưới đây là hai bản tường thuật. Bản thứ nhất tường thuật buổi trò chuyện giữa QHL với tướng Đặng Quốc Bảo. Bản thứ hai tường thuật buổi trò chuyện giữa QHL và VCF với cựu TBT Lê Khả Phiêu..."
(Xem http://danlambaovn.blogspot.com/2012/05/tro-chuyen-voi-tuong-ang-quoc-bao.html )
Đây chính là tuyệt chiêu của ngọn cước song phi: đá cả 2 đối thủ.
Dùng lời Lê Khả Phiêu "không để Nguyễn Tấn Dũng làm trưởng ban chống tham nhũng" là ngọn cước đá vung cái bùa hộ mệnh của Dũng. Từ đây, các vụ tham ô của Dũng có thể sẽ lần lượt bị phanh phui ra.
Đối với Nguyễn Phú Trọng thì câu sau là ngọn cước đá vào huyệt tử của hắn ta: "Lợi dụng cương vị, hắn tìm cơ hội làm ăn, nếu được, hắn sẽ ngồi ghế TBT vĩnh cửu, chứ không phải nửa hay một nhiệm kỳ, đã hình thành sự liên kết PT-TQ."
Để một đại tướng nói chuyên với một đại tá về Trọng, hàm ý đã rất rõ: Quân đội từ trên xuống dưới đã không ủng hộ Trọng nữa rồi. Chúng tôi đã có bằng chứng thép về cấu kết của Trọng và Trung Quốc. Cái khuyết điểm chết người, sẽ làm Trọng tiêu tan uy tín chính trị lúc này là "đã hình thành sự liên kết PT-TQ."
Nguyễn Phú Trọng đã hiểu: Những người đứng sau bài viết này sẽ làm thật. Trong tay họ có bằng chứng thật. Đây là đe dọa có uy tín, được đảm bảo bởi lời nói của 2 quân nhân cao cấp.
Nguyễn Phú Trọng đành xuống nước, không gì bằng bảo vệ sinh mạng chính trị của mình.
Ông ta đồng ý để Quốc hội VN thông qua Luật Biển VN.
Như vậy Luật Biển VN được thông qua trong phiên họp bế mạc của Quốc hội VN với bộ mặt tươi cười của 3 nhân vật quan trọng nhất võ đài chính trị VN: Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng, Trương Tấn Sang.
Theo: Danlambao
1. Ý nghĩa chính trị và pháp lý của Luật Biển VN
Luật Biển VN qui định vùng lãnh hải của Nhà nước VN. Luật Biển Việt Nam là bộ luật làm cơ sở cho mọi hoạt động của nhà nước Việt Nam trên lãnh hải của mình.
Nó cũng là cơ sở pháp lý để nhà nước Việt Nam thương lượng trong những tranh chấp có thể xảy ra, hay đã xảy ra rồi, nhưng chưa có kết quả thương lượng, chẳng hạn sự kiện Trung Quốc đã chiếm đóng Hoàng Sa và 9 đảo tại Trường Sa của Việt Nam.
Do lý do bản công hàm 14/9/1958 của Phạm Văn Đồng, do áp lực của Trung Quốc mỗi khi Việt Nam muốn có Luật Biển nên cho đến trước 21/6/2012, Việt Nam vẫn chưa có Luật Biển.
Việc này đã làm yếu vị thế của Việt Nam trước con mắt quốc tế, trong các tranh chấp trên Biển Đông.
Chỉ đơn giản nhắc lại rằng: mặc dù 51 quốc gia nhóm họp ở San Francisco Mỹ 1951, đã bác bỏ đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc trên 2 quần đảo Hoàng Sa, Trương Sa, và công nhận chủ quyền của Việt Nam trên 2 quần đảo ấy, thì nội dung công hàm 4/9/1958 của Chu Ân Lai khẳng định chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa, Trường Sa cũng vẫn được Quốc Hội Trung Quốc thông qua.
Nói cách khác, Trung Quốc chẳng thèm để ý quyết định của 51 quốc gia khác trên thế giới, chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa, Trường Sa đã được Quốc Hội, tức đại diện cho 600 triệu người Trung Quốc hậu thuẫn.
Sau đó năm 1992, khi đã tặng được cho Việt Nam 16 chữ và 4 điều tốt, họ ra Luật Biển TQ, công nhiên khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa thuộc lãnh hải Trung Quốc.
Không có luật Biển qui định rõ ràng lãnh hải của Nhà nước VN, cuộc chiến đấu dành lại Hoàng Sa, Trường Sa ở mọi phương diện: nhà nước, khoa học, pháp lý, dư luận dân chúng,... đã gặp rất nhiều khó khăn.
Ta chỉ đơn cử việc chính nhà nước Việt Nam bắt bỏ tù tất cả những ai đã viết trên nón đội HS-TS-VN. Thử hỏi trong tình huống đàn áp như vậy, có người trí thức Việt Nam nào dám thảo luận, dám suy nghĩ về Hoàng Sa, Trường Sa.
Trong tình hình xâm nhập kinh tế ngày càng mạnh của Trung Quốc vào Việt Nam, Trung Quốc đã có thêm vũ khí mới: dùng tiền để lũng đoạn chính trường Việt Nam, ngăn cản Việt Nam thông qua luật Biển.
Luật Biển VN được thông qua với Điều 1 khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa sẽ buộc Trung Quốc phải thượng lượng với Việt Nam về vấn đề vô cớ chiếm đóng trên toàn bộ quần đảo Hoàng Sa từ 19/1/1974, và 9 đảo của VN tại Trường Sa từ 1988, 1992.
Đây là điều mà Trung Quốc hoàn toàn không muốn. Từ 1974 tới nay, Trung Quốc vẫn khăng khăng một mực tuyên bố không có vấn đề chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa.
Bây giờ, Quốc hội VN đại diện cho ý chí của 90 triệu người Việt Nam tuyên bố: Hoàng Sa, Trường Sa là máu của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam, là 2 quần đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Vậy câu hỏi đặt ra là: Tại sao quân đội TQ lại chiếm đóng nhiều vị trí thuộc lãnh hải Việt Nam từ 1974 đến nay?.
Nếu TQ cứ khăng khăng một mực như cũ, không chịu đàm phán, thì chỉ có một hệ quả: Trung Quốc có dã tâm xâm lược vĩnh viễn Hoàng Sa và 9 đảo Trường Sa của Việt Nam.
Đối với xâm lược, quyền đánh trả tự vệ để bảo vệ sự bất khả xâm phạm của biển, trời, đảo, lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam là quyền tự vệ thiêng liêng của dân tộc Việt Nam, điều này hoàn toàn không mâu thuẫn với chủ trương đàm phán hòa bình về những tranh chấp lãnh hải, lãnh thổ.
Quân đội Việt Nam, sau sự kiện Luật Biển VN được thông qua tại Quốc hội VN, đã có hậu thuẫn của 90 triệu nhân dân Việt Nam, của luật tự vệ thiêng liêng của các dân tộc trên thế giới chống ngoại xâm, đã được LHQ công nhận, trong những kế hoạch giải phóng vũ trang hoàn toàn Hoàng Sa, 9 đảo Trường Sa hiện bị TQ chiếm giữ.
Điều này giải thích tại sao Trung Quốc đã áp lực rất mạnh trong khi Quốc hội VN họp bàn kín với đề xuất hoãn đến khi Trung Quốc họp đại hội Đảng CS của họ xong. Trung Quốc muốn câu thời gian để lũng đoạn chính trường Việt Nam, để không bao giờ Việt Nam có thể thông qua Luật Biển được.
Hôm nay, đối với những người Việt Nam yêu nước, mong muốn này của TQ là không tưởng, nhưng với ban lãnh đạo bành trướng TQ, ảo vọng của họ vẫn rất lớn.
Kẻ để cho TQ nuôi ảo vọng có thể thần phục được Việt Nam trong một thời gian dài, có thể 1000 năm, có thể là vĩnh viễn, chính là Nguyễn Phú Trọng, Tổng bí thư đảng CSVN.
Nhân vật thân Trung Quốc này, đã tìm chỗ dựa tại Trung Quốc bằng câu nói nổi tiếng: "Biển Đông là yên tĩnh" đã leo lên ghế cao Tổng bí thư của đảng CSVN.
Nhân vật này khi còn là Chủ tịch Quốc hội VN khóa trước, luôn đưa vấn đề Biển Đông ra khỏi chương trình nghị sự của Quốc hội VN.
Tình hình, như mô tả trên, đã đặt vấn đề thông qua luật Biển tại Quốc hội VN lúc này, như là một việc chưa khả thi, nếu không nói là vô khả thi.
Ngày 21/06/2012, tin nóng: Quốc hội VN đã thông qua Luật Biển với điều 1 khẳng định chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa, Trường Sa.
Hiển nhiên, đằng sau việc thông qua luật Biển tại Quốc hội là những đấu đá bất tận, nhưng mưu mẹo ép nhau giữa các đấu thủ chính, đã quen với công luận nhiều năm nay: TBT Nguyễn Phú Trọng, CT nước Trương Tấn Sang, TT Nguyễn Tấn Dũng.
Trước khi đi vào một phán đoán, những gì đã xảy ra sau cánh gà sân khấu chính trị Việt Nam, ta nhắc lại giá trị của 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa với Tổ quốc Việt Nam.
1. Vị trí chiến lược và nguồn tài nguyên giàu có của Hoàng Sa, Trường Sa
Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa gần như nằm giữa Biển Đông, có nguồn tài nguyên phong phú và vị trí chiến lược vô cùng quan trọng đối với Tổ quốc Việt Nam.
Quần đảo Hoàng Sa gồm trên 30 đảo, đá, cồn san hô, bãi cạn nằm ở khu vực biển giữa vĩ độ 15o45'B-17o15'B xác định 1 vùng biển rộng khoảng 16.000km2, cách đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi VN) khoảng 120 hải lý, cách đảo Hải Nam (Trung Quốc) khoảng trên 140 hải lý.
Toàn bộ diện tích nổi của Hoàng Sa là khoảng 10km2, đảo lớn nhất Phú Lâm có diện tích 1, 5km2.
Quần đảo Trường Sa nằm phía Đông-Nam Biển Đông, gồm trên 100 các đảo, đá, cồn san hô, bãi cạn, và bãi ngầm trên vùng biển rộng khoảng 180.000km2, cách Cam Ranh (Việt Nam) khoảng 248 hải lý, được chia thành 8 cụm đảo có tên: Song Tủ, Thị Tứ, Loại Ta, Nam Yết, Sinh Tồn, Trường Sa, Thám Hiểm và Bình Nguyên.
Toàn bộ diện tích nổi của quần đảo khoảng 10 km2. Đảo Ba Đình có diện tích lớn nhất, đảo Song Tử Tây cao nhất (khoảng 4-6m).
Khu vực biển, trời mà 2 quần đảo này án ngữ có nhiều tuyến hàng hải, hàng không quan trọng đi qua. Nhiều quốc gia phụ thuộc có tính sống còn vào các tuyến hải lộ này như Nam Hàn, Xingapor, Nhật Bản..
Đối với Việt Nam, đây là phên dậu, án ngữ đường biển tiến vào duyên hải Việt Nam.
Theo đánh giá mới đây của Trung Quốc, chỉ tính riêng trữ lượng dầu hỏa của Biển Đông, trữ lượng này có thể đáp ứng trên 30 năm cho nền kinh tế Trung Quốc với mức tiêu thụ hiện nay.
Ta thử làm phép tính xem trữ lượng này đủ cho nền kinh tế Việt Nam trong bao nhiêu năm.
GDP của Trung Quốc 2011 khoảng gần 6000 tỷ Đô la, GDP của Việt Nam khoảng 130 tỷ đô la. Nghĩa là kinh tế Việt Nam tiêu thụ lượng dầu hỏa kém TQ quãng 45 lần. Điều này có nghĩa là lượng dầu hỏa phục vụ cho kinh tế TQ trong 1 năm, sẽ đủ cho kinh tế VN trong 45 năm.
Nếu lượng dầu hỏa dự trữ trên Biển Đông đủ cho kinh tế TQ 30 năm thì lượng dự trữ này đủ cho kinh tế VN trong vòng: 45 * 30 = 1350 năm.
2. Điểm mặt 3 võ sĩ chính
Trên chính trị đài Việt Nam, có 3 võ sĩ sáng giá nhất: Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang.
Nguyễn Phú Trọng là chuyên gia của giả vờ, giả lú, giả yếu, giả kinh điển, giả hòa hoãn. Nhờ biết ngậm hột thị trong mồm, nên ông ta lách được giữa các cuộc đấu đá, nhờ cái bằng tiến sĩ, thông thạo kinh điển Mác-LêNin, mà ông ta được giữ các chức vụ quan trọng của đảng CSVN.
Nguyễn Phú Trọng đã tỏ rõ bản lĩnh chính trị của mình khi tung ra khẩu hiệu: “Biển Đông là yên tĩnh”, để tập hợp lực lượng dưới ngọn cờ này. Lúc này ông ta không còn lú nữa, mà đã là người của Trung Quốc trong đảng CSVN. Lực lượng này đã đưa Nguyễn Phú Trọng lên vị trí đầu con rồng quyền lực, chức TBT đảng CSVN.
Trước tháng 1/2011, Trung Quốc còn nhấp nhổm, nửa kín nửa hở về "lợi ích cốt lõi của TQ tại Biển Đông", nhưng chưa bước vào kế hoạch bành trướng trắng trợn như từ cuối 5/2011, từ sự kiện cắt cáp tầu Bình Minh 2 và VIKING 2. Do Bộ Chính trị đảng CSVN đã nhận 16 chữ và 4 tốt nên đại bộ phận các đảng viên vẫn coi TQ như đồng chí tốt.
Từ sự kiện cắt cáp tầu Bình Minh 2, tuyên bố địa điểm cắt cáp trong lãnh hải 200 hải lý thuộc EEZ của Việt Nam là lãnh hải TQ.., 11 cuộc biểu tình chống Trung Quốc đã thức tỉnh lòng yêu nước bị ru ngủ của nhân dân Việt Nam. Bản tuyên bố chung của Nguyễn Phú Trọng ngày 15/1/2012 với TQ đã bị các trang mạng dân chủ soi rọi và vạch rõ những mưu kế thâm độc của TQ nhằn ly khai biên giới phía bắc của VN, đã khẳng định chủ ý bán nước hoàn toàn của bè lũ Trọng.
Những tráo ngôn, xảo ngữ như "Đứng trên tầm cao quan hệ, tầm cao đại cuộc"... hay “...tình hữu nghị đời đời Việt-Trung là tài sản quý báu chung của hai Đảng, hai nước và nhân dân hai nước, cần được không ngừng củng cố, phát triển, truyền mãi cho các thế hệ mai sau” hay “Hai bên khẳng định, Việt Nam và Trung Quốc tiếp tục kiên trì phương châm “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và tinh thần “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt,” từ tầm cao chiến lược và tầm nhìn toàn cục”... đã bị nhân dân Việt Nam bóc trần là tay sai, bán nước cho giặc xâm lược Trung Quốc.
Đặc biệt giọng lưỡi giáo điều Mác-Lênin bao năm qua đã giúp ông ta leo dần lên tột đỉnh quyền lực tại VN, đã làm hại ông ta, khi Nguyễn Phú Trọng thuyết giảng tại Cu Ba về CNXH.
Dùng tuyên truyền giáo điều ngô nghê của 3 thập niên trước về CNXH, Nguyễn Phú Trọng định mượn nó để trở thành lãnh tụ thế giới của phong trào cộng sản quốc tế chỉ còn gồm VN, Cu Ba, Bắc Triều Tiên và TQ.
Điều ngớ ngẩn này của Trọng đã làm giảm uy tín của Trọng ngay trong hàng ngũ lãnh đạo Việt Nam.
Tuy vậy, nếu Nguyễn Phú Trọng dùng kỷ luật đảng, yêu cầu các đại biểu Quốc hội là đảng viên bỏ phiếu theo ý chỉ của TBT, BCT thì ta hỏi: Luật Biển VN có được thông qua tại Quốc hội ngày 21/6 vừa qua hay không? (QH VN có trên 90% là đảng viên ĐCS VN)
Đấy là ta chưa tính đến yếu tố Nguyễn Tấn Dũng trong bàn cờ quyền lực này.
Nguyễn Tấn Dũng nhờ những mánh lới biến quyền lực thành tiền, biết quà cáp các vị tiền bối cao cấp nên leo đến chức Thủ tướng. Đối với vị Thủ tướng này, kiếm tiền là trên hết, nên thỉnh thoảng ông ta cũng có tuyên bố về chủ quyền Biển Đảo VN.
Trương Tấn Sang thì nổi tiếng với cụm từ "cả đàn sâu thì làm chết cái đất nước này".
Trong 3 nhân vật trên, thì Nguyễn Phú Trọng với bản chất, khả năng, cương lĩnh chính trị: Biển Đông yên tĩnh, chắc sẽ không ủng hộ việc Luật Biển thông qua trong kỳ họp Quốc Hội này, không những thế, Trọng sẽ là người bảo vệ trung thành lợi ích của TQ tại Bộ Chính trị của đảng CSVN.
Nguyễn Tấn Dũng thì có thể gật cho thông qua Luật Biển, nhưng điều kiện là ông ta thu được lợi gì.
Chỉ có thể còn lại giả thiết là: Trương Tấn Sang đã đạo diễn việc thông qua từ A đến Z luật Biển tại Quốc Hội VN ngày 21/6/2012.
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã có kế hoạch với Tiên Lãng, với Hải Phòng và với Văn Giang, Hải Hưng.
Để chắc chắn thành công, theo thói quen quân sự, Thủ tướng cần dự trữ thêm uy tín của mình trước khi xung trận, như một lực lượng dự trữ chiến lược.
Mà tự nâng uy tín cho mình, không gì bằng cất tiếng nói về Hoàng Sa, Trường Sa.
Mà cất tiếng nói về Biển đảo VN, thì không nói ở đâu bằng nói trước Quốc Hội VN. Truyền hình VN, truyền thông VN, báo chí VN... sẽ đưa tin.
Thế là có bài phát biểu của Thủ tướng ngày 25/11/2011 tại Quốc hội VN, về chủ quyền của Việt Nam tại 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.
Nước cờ này của Dũng là bất ngờ với CT nước và TBT ĐCS VN. Chúng ta có thể thấy trên tivi VN truyền hình hôm đó, cảnh Nguyễn Phú Trọng vỗ tay miễn cưỡng ra vẻ ủng hộ thủ Dũng.
Đã có nhiều người yêu nước lầm tưởng rằng: chính lòng yêu nước đã giúp Thủ tướng đã vượt qua tệ sùng bái cá nhân đối với Hồ Chí Minh, người đứng sau Phạm Văn Đồng, gián tiếp chịu trách nhiệm về nội dung của công hàm bán Biển Đảo của Đồng ngày 14/9/1958 gửi Chu Ân Lai.
Không phải như vậy, Thủ tướng Dũng làm tất cả để chỉ thu lợi cho mình. Và món lợi này là món lợi 2,5 tỷ đô la Mỹ, món lợi này có tên Văn Giang Hải Hưng.
Thực ra, TBT và CT nước bị bất ngờ, vì nước đi này của Thủ tướng, nhất là Nguyễn Phú Trọng. Tuy nhiên, không có lý do gì để cản, hay khiển trách Dũng được. Không có nghị quyết nào không cho phép ủy viên Bộ chính trị không được phát biểu về Hoàng Sa, Trường Sa.
Thế là sau đó, để không dành hoàn toàn tiếng yêu nước cho riêng Dũng, ta thấy Trọng cũng nói về chủ quyền Biển Đảo là bất khả xâm phạm, nói một cách chung chung tại hội nghị về ngoại giao VN lần thứ 27 ngày 12/12/2011 với khẳng định: "tích cực hội nhập quốc tế với nguyên tắc xuyên suốt là lợi ích quốc gia, dân tộc là ưu tiên cao nhất."
Còn Chủ tịch nước Trương Tấn Sang phải làm một tua du lịch bất đắc dĩ tới Thác Bản Giốc cuối năm 2011.
Cái chút uy tín mà Dũng cần thêm ấy, thực ra dính tới chuyện gì? Hôm nay, thì ta đã biết uy tín ấy là để dùng cho phiên tòa sử Vinashin tại Hải Phòng và chuyện cưỡng chế đất ở Văn Giang, Hải Hưng. Phiên tòa xử vụ Vinashin tại Hải Phòng là chính thức về mặt pháp lý đóng lại hồ sơ tham nhũng của Thủ tướng tại tập đoàn này. Thế nhưng không may cho Thủ tướng là giữa chừng lại nẩy ra vụ Đoàn Văn Vươn, Tiên Lãng, Hải Phòng.
Một lần nữa, Nguyễn Tấn Dũng lại lộ bộ mặt láu cá láu tôm, chơi con bài "để lâu thì cứt trâu phải hóa bùn", đối với vụ cưỡng chế 40 ha đầm hải sản của anh Vươn, nhưng bị anh Vươn chống lệnh bằng súng, đạn tự chế.
Trong khi một số người hy vọng vào một Thủ tướng hiểu biết lẽ phải, biết đứng trên tầm cao của nhiệm vụ, sẽ nhân vụ Tiên Lãng, nhân những tiếng súng hoa cà, hoa cải của anh Đoàn Văn Vươn nổ, mà cải cách những bất cập về chính sách công hữu đất đai, nhằm giảm thiểu mâu thuẫn to lớn vì những bất cập do cái gọi là "sở hữu toàn dân", mà thực chất đất đai trở thành sở hữu riêng của tầng lớp quan lại cộng sản.
Thực tế thêm một lần nữa chứng minh đây không phải là một Thủ tướng có tài kinh bang tế thế, vì nước, vì dân. Đây đã là một Thủ tướng trước sau như một chỉ tính toán tư lợi cho riêng mình.
Thủ tướng đang tính gì lúc này?

Thưa với bạn đọc rằng: Thủ tướng đang tính các con số chỉ ra mối lợi thu được, sau cưỡng chế Văn Giang, Hải Hưng.
Người dân Văn Giang được đền bù quãng 135.000 đông/m2. Giá đất hiện tại là hơn 70 triệu /m2.
Ta thấy: 1 ha=100a, 1 a=100m2, vậy 1ha=10.000m2.
Dự án Ecopark chiếm 70ha, vị chi là 70*10000m2= 700.000m2.
Lấy giá 1 m2 là 70 triệu đồng, giá của cả mặt bằng là 70 triệu* 700.000m2=49.000.000 triệu đồng, tức là 49.000 tỷ đồng, tương đương với gần 2 tỷ rưỡi đôla.
Để bạn đọc hình dung ra giá trị của 2,5 tỷ đô la, tôi cung cấp thông tin sau: Vào những năm cuối thập kỷ 70, ĐCS VN Việt Nam đưa ra, như điều kiện tiên quyết cho bình thường hóa quan hệ Việt-Mỹ, là 2 tỷ đô la.
Hoa Kỳ từ chối điều kiện này. Thế là quan hệ Việt-Mỹ đóng băng.
Trung Quốc lợi dụng sự cô lập của Việt Nam đã gây nên chiến tranh giết hại thảm khốc hơn 300.000 nhân dân Việt Nam tại các tỉnh biên giới Việt-Trung 1979 và hủy toàn bộ hạ tầng cơ sở kinh tế của các tỉnh này.
Như vậy 2 tỷ đô la là giá đền bù cho cả 1 cuộc chiến tranh thảm khốc 1964-1975.
Hai tỷ đô la cũng là giá đã phải trả cho một cuộc chiến tranh biên giới "Dạy cho Việt Nam một bài học" của Trung Quốc. Bởi vì nếu Việt Nam không đặt điều kiện đền bù chiến tranh, thì quan hệ Việt-Mỹ đã được bình thường và chiến tranh biên giới có thể đã không xảy ra.
Nguyễn Tấn Dũng và tập đoàn xơi ngon ơ 2,5 tỷ đô la.
Hôm nay, khi Luật Biển VN đã được thông qua với bao bất minh: Nội dung Luật Biển chưa được chuyển tải đến công luận một cách chính thức, chỉ được nêu một cách mập mờ về khả năng sửa đổi, làm chính xác vài qui định,... ngày hiệu lực của Luật Biển là xa vời: 1/1/2013, như một thái độ chiều lòng Trung Quốc, trong đòi hỏi của họ: lui việc thông qua Luật Biển VN tại Quốc hội VN đến khi Đại hội đảng CSTQ họp xong vào cuối năm.
Việc 4 đại biểu quốc hội không tham gia cuộc bỏ phiếu, và 1 đại biểu bỏ phiếu trắng cho Luật Biển nói lên nhũng đấu đá đá đến phút chót của chóp bu Bộ Chính trị đảng CSVN.
Hôm nay, toàn dân Việt Nam đã chứng kiến những phản ứng điên cuồng của Trung Quốc sau khi Quốc hội VN thông qua luật Biển VN. Cùng trong ngày 21/6/2012, Bộ Ngoại giao TQ triệu đại sứ VN tại TQ để phản đối Luật Biển VN. Trung Quốc ngang nhiên trả đũa bằng chính thức thông qua thành lập thành phố Tam Sa, huyện lỵ hành chính của Hoàng Sa, Trường Sa. Quốc hội TQ còn kêu gọi Quốc hội VN sửa lại điều "sai, trái" trong Luật Biển VN. Tập đoàn dầu khí Hải Dương TQ (CNOOC) lên tiếng mời chào đấu thầu 9 lô thăm dò dầu khí trong lãnh hải 200 hải lý EEZ của Việt Nam...
Nguy hiểm hơn, TQ còn cho 4 tầu hải giám của họ truy đuổi tầu cảnh sát biển VN khi tầu này thực hiện hoạt động chức năng tại lãnh hải Trường Sa của Việt Nam.
Trung Quốc đã thách thức Việt Nam: Nếu tuân thủ Luật Biển, bảo vệ lãnh hải theo Luật Biển VN sẽ xảy ra chiến tranh với họ.
Căn cứ vào những phản ứng điên cuồng này, ta có thể suy đoán rằng: Đấu tranh hậu trường để Luật Biển được thông qua là vô cùng khó khăn bởi cản trở của Trung Quốc, của phe Nguyễn Phú Trọng.
Vậy CT nước Trương Tấn Sang đã làm những gì để đạt được mục đích của mình, thuận với lòng dân?
3. Ngọn cước song phi Trương Tấn Sang
Nguyễn Phú Trọng đã tiến hành chỉnh đảng một cách khôn khéo. Ông ta kéo Trương Tấn Sang vào cùng phía để đập Dũng. Mà Nguyễn Tấn Dũng thì cứt dính đầy mình từ Vinashin tới Vinalines.
Chỉnh đảng đang quay theo tiến trình riêng của nó.
Nguyễn Tấn Dũng đã dao động và bắt buộc phải liếc tình sang phe Trọng: Nhận ái nữ của Tô Huy Rứa, cánh tay phải của Trọng vào một Tổng công ty nhà nước Vinaconex, trong lúc Tô Linh Hương vừa ra trường có 24 tuổi đời.
Nhận ra mối nguy của liên minh Dũng-Trọng, Trương Tấn Sang quyết định dùng miếng tuyệt chiêu, chỉ dùng trong tình huống sống, chết: cú cước song phi. Đây là chiêu chân mạnh sẽ đá kẻ mạnh, chân yếu sẽ đá kẻ yếu hơn. Đặc điểm của chiêu này là phải nhanh, mạnh và trúng huyệt tử của các đối phương. Nếu không đánh cho những kẻ địch kia gục xuống, thì khả năng phản công của chúng sẽ phục hồi trở lại.
Tình thế sẽ trở nên không có lợi cho người ra chiêu.
Chân phải mạnh, Trương Tấn Sang phi vào mặt Nguyễn Phú Trọng.
Có lý.
Nguyễn Phú Trọng là cản trở lớn nhất việc thông qua Luật Biển tại Quốc hội VN. Tổng Trọng cũng là phát ngôn cho quyền lợi TQ tại Quốc hội VN. Đầu tiên phải đánh gục Trọng. Giải quyết được Trọng, thì giải quyết Thủ tướng tham nhũng, chỉ cần dùng chân trái mà thôi.
Ngày 24/5 trên không gian mạng, lan truyền bài viết "Trò chuyện với tướng Đặng Quốc Bảo và cựu TBT Lê Khả Phiêu" với giới thiệu của Nguyễn Thanh Giang, một nhà dân chủ nổi tiếng từ lâu.
Lời giới thiệu viết: "Tuần qua ở Hà Nội có tán phát một bản viết tay ký tên QHL. Theo điều tra, đây chính là chữ của đại tá Quách Hải Lượng. Dưới đây là hai bản tường thuật. Bản thứ nhất tường thuật buổi trò chuyện giữa QHL với tướng Đặng Quốc Bảo. Bản thứ hai tường thuật buổi trò chuyện giữa QHL và VCF với cựu TBT Lê Khả Phiêu..."
(Xem http://danlambaovn.blogspot.com/2012/05/tro-chuyen-voi-tuong-ang-quoc-bao.html )
Đây chính là tuyệt chiêu của ngọn cước song phi: đá cả 2 đối thủ.
Dùng lời Lê Khả Phiêu "không để Nguyễn Tấn Dũng làm trưởng ban chống tham nhũng" là ngọn cước đá vung cái bùa hộ mệnh của Dũng. Từ đây, các vụ tham ô của Dũng có thể sẽ lần lượt bị phanh phui ra.
Đối với Nguyễn Phú Trọng thì câu sau là ngọn cước đá vào huyệt tử của hắn ta: "Lợi dụng cương vị, hắn tìm cơ hội làm ăn, nếu được, hắn sẽ ngồi ghế TBT vĩnh cửu, chứ không phải nửa hay một nhiệm kỳ, đã hình thành sự liên kết PT-TQ."
Để một đại tướng nói chuyên với một đại tá về Trọng, hàm ý đã rất rõ: Quân đội từ trên xuống dưới đã không ủng hộ Trọng nữa rồi. Chúng tôi đã có bằng chứng thép về cấu kết của Trọng và Trung Quốc. Cái khuyết điểm chết người, sẽ làm Trọng tiêu tan uy tín chính trị lúc này là "đã hình thành sự liên kết PT-TQ."
Nguyễn Phú Trọng đã hiểu: Những người đứng sau bài viết này sẽ làm thật. Trong tay họ có bằng chứng thật. Đây là đe dọa có uy tín, được đảm bảo bởi lời nói của 2 quân nhân cao cấp.
Nguyễn Phú Trọng đành xuống nước, không gì bằng bảo vệ sinh mạng chính trị của mình.
Ông ta đồng ý để Quốc hội VN thông qua Luật Biển VN.
Như vậy Luật Biển VN được thông qua trong phiên họp bế mạc của Quốc hội VN với bộ mặt tươi cười của 3 nhân vật quan trọng nhất võ đài chính trị VN: Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng, Trương Tấn Sang.
Theo: Danlambao
Cập nhật lúc : Thứ Hai, tháng 7 09, 2012





