Vai trò của dân chủ đối lập và lãnh đạo đối lập

Việt Hoàng (Moskva)
-
“...Ai xứng đáng là người lãnh đạo của đối lập dân chủ? Nếu không giải được bài toán này thì những bế tắc hiện nay của Việt Nam sẽ không có lối thoát...”
Chỉ cần một năm về trước, nếu ai đó cho rằng Miến Ðiện sẽ chuyển hướng về phía dân chủ như hiện nay thì có lẽ ít người tin rằng điều đó sẽ xảy ra. Thế nhưng hành trình đi về phía dân chủ của Miến Ðiện đã thực sự diễn ra và khó lòng đảo ngược. Dù rằng sẽ còn nhiều việc phải làm nhưng tương lai của Miến Ðiện sáng sủa hơn và đầy hy vọng.


Có nhiều ý kiến giải thích cho sự thay đổi tại Miến Ðiện như sự thắng thế của thế hệ lãnh đạo trẻ trong nội bộ cầm quyền, giới lãnh đạo Miến Ðiện đa số theo Phật giáo nên trong con người họ vẫn còn thiện tính, sự "can thiệp" ngày càng sâu rộng của Trung Quốc vào đời sống chính trị Miến Ðiện khiến giới lãnh đạo bất an và muốn tìm cách thoát khỏi sự o ép… Nhưng nguyên nhân chính (mang tính quyết định) cho sự thay đổi ngoạn mục tại Miến Ðiện, đó là sự hiện diện của tổ chức đối lập Liên đoàn quốc gia vì dân chủ và thủ lĩnh của nó, bà Aung San Suu Kyi.

Rất nhiều người Việt Nam cũng cố đi tìm câu trả lời cho câu hỏi là vì sao Việt Nam không làm được như Miến Ðiệ ? Và sự thực thì cho đến bây giờ vẫn chưa ai tìm được lối ra cho Việt Nam.

Mọi cuộc thay đổi (trong hòa bình) chỉ xảy ra khi hội tụ hai điều kiện, thứ nhất là khủng hoảng kinh tế và xã hội trầm trọng, thứ hai là những người cầm quyền tin rằng sự thay đổi có lợi cho họ. Ðiều kiện thứ nhất (khủng hoảng xã hội) tại Việt Nam đang diễn ra, nhưng điều kiện thứ hai (thay đổi phải có lợi cho giới cầm quyền) thì vẫn chưa thấy rõ. Nếu vẫn một đảng thì mọi sự thay đổi chỉ là vá víu và tạm bợ chứ không có thực chất. Một chân lý mà ai cũng rõ: cạnh tranh là động lực cho sự phát triển. Độc đảng đồng nghĩa với độc quyền, nghĩa là không có cạnh tranh, như vậy sẽ không có thay đổi (để phát triển). Nhưng thay đổi mà không đảm bảo quyền lợi cho nhóm cầm quyền hiện nay thì họ sẽ không chấp nhận, thậm chí chống đối đến cùng.

Tại Miến Ðiện, giới quân phiệt cầm quyền có thể thay đổi vì trước mắt họ có một tổ chức đối lập, Liên đoàn quốc gia vì dân chủ, và bà Aung San Suu Kyi để đối thoại và tiến tới hợp tác để tạo ra những thay đổi tích cực như chúng ta đã thấy. Trong khi đó tại Việt Nam, giả sử chính quyền cộng sản có muốn thay đổi cũng không làm được vì không biết phải đối thoại với tổ chức chính trị đối lập nào?

Vì sao Việt Nam không có tổ chức đối lập và có một lãnh tụ đối lập như Miến Ðiện? Vai trò của "dân chủ đối lập" và "lãnh đạo đối lập" có vai trò như thế nào trong quá trình chuyển hướng Việt Nam về phía dân chủ ?... Bài viết này cố gắng tìm lời giải đáp cho những câu hỏi đó.

Tất cả chúng ta đều thấy rõ một điều là xã hội Việt Nam đang khủng hoảng trầm trọng trên mọi lĩnh vực : chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, y tế. Nguyên nhân dẫn đến sự khủng hoảng toàn diện này xuất phát từ sự suy thoái toàn diện của đảng cộng sản Việt Nam, lực lượng duy nhất cầm quyền và lãnh đạo tại Việt Nam.

Ðảng cộng sản Việt Nam (xem như) đã hoàn thành sứ mệnh giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước, tuy nhiên trong thời kỳ xây dựng và phát triển một nhà nước pháp quyền, với những áp đặt chủ quan và phản khoa học của mô hình nhà nước "xã hội chủ nghĩa" thì sự thất bại toàn diện đã rõ ràng.

Ðảng cộng sản có nhìn ra vấn đề nghiêm trọng của mình không ? Chắc chắn là có. Trọng tâm của Hội nghị trung ương 4 khóa XI là "chỉnh đốn đảng". Thế nhưng đảng cộng sản có thể "tự chỉnh đốn" và "đổi mới lần thứ 2" hay không? Chắc chắn là không. Năm 1986, đảng cộng sản Việt Nam đã "đổi mới" được vì khi đó trong nội bộ đảng chưa xuất hiện các "nhóm lợi ích". Ngày nay mọi sự đã khác trước, các nhóm tài phiệt (nhóm lợi ích, nhóm đặc quyền…) đã lớn mạnh và chi phối hoàn toàn các chính sách của nhà nước.

Ví dụ luật đất đai, mặc dù nhân dân và mọi tầng lớp trong xã hội đã đòi hỏi từ lâu là phải công nhận "quyền tư hữu đất đai" của người dân, thế nhưng trong Hội nghị trung ương 5, khóa XI mới đây đảng cộng sản vẫn kiên quyết không chấp nhận đòi hỏi chính đáng này. Một ví dụ khác cho thấy sự thao túng hoàn toàn chính quyền của các nhóm lợi ích đó là vụ cưỡng chế thu hồi đất tại Văn Giang, Hưng Yên. Ai cũng tưởng rằng sau sự kiện Ðoàn Văn Vươn ở Tiên Lãng, Hải Phòng, thì chính quyền sẽ chùn tay và mềm mỏng hơn nhưng mọi người đều bất ngờ khi hàng ngàn cảnh sát được huy động để đối phó với vài trăm nông dân.

Thêm một lý do nữa dẫn đến sự suy thoái ngày nhanh trong giới cầm quyền tại Việt Nam, đó là sự "thân tộc hóa" các vị trí lãnh đạo cao cấp trong chính quyền (trường hợp Nguyễn Thanh Nghị, con trai của Nguyễn Tấn Dũng ; Tô Linh Hương, con gái của Tô Huy Rứa ; Nông Quốc Tuấn, con trai Nông Ðức Mạnh…). Hành động "thân tộc hóa" chứng tỏ giới lãnh đạo cầm quyền đã mất niềm tin vào tổ chức của mình, tức đảng cộng sản Việt Nam. Sự co cụm để bảo vệ đồng nghĩa với sự suy thoái. Ðiều này cũng khiến cho sự bất mãn tăng lên trong nội bộ đảng cộng sản vì cơ hội thăng tiến của các thành phần khác trong đảng đã vuột mất.

Những hành động đàn áp ngày càng tăng trong thời gian qua chứng tỏ sự hoảng loạn của giới cầm quyền. Bấu víu vào bạo lực là sự cùng đường. Khi đảng cộng sản phải thay việc thuyết phục bằng sự khuất phục thì khủng hoảng của chế độ đã gần đến hồi cuối. Sự gia tăng bạo lực của chính quyền cũng chứng tỏ rằng lực lượng dân chủ đối lập và những thành phần đối kháng trong dân chúng còn rất yếu và phân tán. Chính quyền cộng sản tin chắc như vậy nên mới dám mạnh tay trấn áp. Trong bất cứ cuộc chơi nào, khi một bên chấp nhận tham gia vào một cuộc chơi điều đó có nghĩa là họ còn tin vào chiến thắng, kể cả trong các cuộc cờ bạc đỏ đen. Noi tóm lại, không ai tham gia cuộc chơi mà biết rõ mười mươi là thất bại. Nếu phong trào dân chủ Việt Nam có tổ chức và có một lãnh tụ để kết hợp những người đấu tranh, chính quyền cộng sản chắc chắn sẽ không dám đàn áp thô bạo và không chừng còn phải tìm cách thương lượng với các cấp lãnh đạo phong trào dân chủ để thỏa hiệp.

Ðiều này có lẽ ai cũng biết nhưng không ai muốn làm. Văn hóa và di sản luồn lách của dân tộc Việt Nam vẫn còn đè nặng hiện tại khiến người Việt khó gắn kết với nhau một cách tự nguyện để thay đổi tương lai.

Người Việt có một tính xấu là không ưa nhau, không ai phục ai, càng có chút học vị hay tiếng tăm thì tính xấu này càng nhiễm nặng. Người ta thù ghét người khác làm lãnh tụ nhưng bản thân lại cư xử như là lãnh tụ. Tình liên đới và chia sẻ trong cộng đồng chỉ xuất hiện khi bị bắt buộc (tôn giáo là chuyện khác). Trước đây các nhà tư sản dân tộc ủng hộ cách mạng vì bị cán bộ cộng sản tìm đến tỉ tê hoặc bị dí súng vào đầu; ngày nay chuyện ủng hộ phong trào dân chủ của các nhà giàu hay tầng lớp trung lưu là rất hiếm hoi.

Trí thức Việt Nam vẫn không chịu hiểu rằng, đấu tranh là phải có tổ chức, nhất là đấu tranh chính trị dù rằng ai cũng biết câu ông bà đã dạy "một cây làm chẳng nên non". Ai cũng chọn phương pháp đấu tranh kiểu "nhân sĩ" kể cả những người can đảm như Cù Huy Hà Vũ, người đã nhiều lần tuyên bố không thuộc một tổ chức hay đảng phái nào. Ai cũng thích làm Lục Vân Tiên "giữa đường thấy chuyện bất bình chẳng tha" thay vì học tập tấm gương của vị anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi, người đã lặn lội vào tận núi rừng Lam Sơn để hiến kế giúp Lê Lợi đánh đuổi quân Minh xâm lược.

Một lý do khách quan khiến phong trào đối lập không phát triển được đến từ phía chính quyền. Bóp chết mọi mầm mống phản kháng (hay chống đối) của các tầng lớp nhân dân từ trong trứng nước là quyết tâm và sự nhất quán của đảng cộng sản Việt Nam từ trước đến nay. Trước mắt thì đây có vẻ như là một lựa chọn khôn khoan và duy nhất để đảm bảo sự cầm quyền của đảng nhưng về lâu dài đây là hành động chặn đường rút lui của mình, nghĩa là tự sát. Muốn có chuyển đổi dân chủ trong hòa bình thì bắt buộc phải có lực lượng "dân chủ đối lập", lực lượng này tránh cho đất nước khỏi sự đổ vỡ đồng thời đảm bảo quyền lợi, tài sản và cả tính mạng cho giới cầm quyền sau cuộc chuyển tiếp. (Xem thêm bài "Aung San Suu Kyi và vai trò của lãnh đạo đối lập" của tác giả Trần Minh Khôi).

Ðối lập (tất nhiên là đối lập dân chủ vì có dân chủ mới có đối lập) trong mọi quốc gia đều có một vai trò đặc biệt quan trọng. Ðối lập giúp chính quyền làm những việc mà chính quyền không thể làm được, nói những điều mà chính quyền không thể nói được. Ðối lập như hai mặt của đồng tiền, nó khăng khít và tương hỗ cho đảng cầm quyền. Ngay tại Trung Quốc, một nước độc tài thì cũng phải cần đến tiếng nói của "đối lập". Hoàn Cầu thời báo, được xem là tờ báo và tiếng nói đối lập của Trung Quốc, với giọng điệu cứng rắn để phụ họa cho lời lẽ mềm mõng của giới ngoại giao. Tại Việt Nam, vì không có đối lập nên việc lên tiếng ủng hộ Philippines trước sức ép Trung Quốc phải "nhờ" đến các nhân sĩ trí thức. Rõ ràng là chính quyền cộng sản Việt Nam đã tỏ ra lúng túng khi lên tiếng công khai phản đối Trung Quốc sử dụng sức mạnh quân sự để lấn áp những quốc gia nhỏ bé hơn, nhưng nếu im lặng thì càng bị Trung Quốc lấn lướt hơn. Ðàng nào cũng khó cho chính quyền cộng sản Việt Nam.

Những nhận định trên thuộc về vai trò đối ngoại của đối lập. Về đối nội, vai trò của đối lập càng quan trọng hơn.

Ðối lập là nơi tập trung những ý kiến phản đối và những bất mãn trong dân chúng. Khi sự bất mãn của số đông được chia sẻ, đồng cảm, nếu được lãnh đạo và được dẫn dắt bởi các lực lượng đối lập ôn hòa thì bạo loạn và bạo động chắc chắn sẽ không xảy ra. Việc đàn áp thường xuyên và mạnh tay của chính quyền sẽ để lại những di hại rất nặng nề, những dồn nén và uất ức lâu ngày sẽ bùng phát mạnh mẽ khi có cơ hội và là thảm họa cho đất nước và cho cả giới cầm quyền hiện nay.

Sự có mặt của đối lập với những phản biện thẳng thắn, gay gắt và dứt khoát giúp chính quyền luôn đưa ra những quyết định đúng đắn và sáng suốt. Vì không có đối lập nên chính quyền Việt Nam ngày càng suy thoái nhanh chóng bởi những quyết định rất chủ quan và sai lầm xuất phát từ ý kiến bất chợt của một người nào đó trong giới lãnh đạo. Việc xây dựng một quần thể hoành tráng trên ngọn núi Chung để làm đền thờ cho thân sinh và anh chị em ruột của ông Hồ là một ví dụ.

Ðến đây, chúng ta có thể hiểu được vai trò không thể thiếu của các đảng đối lập trong đời sống chính trị của mỗi quốc gia. Tham gia hoặc góp phần vào việc xây dựng, hình thành các tổ chức đối lập là trách nhiệm và quyền lợi của mỗi người dân Việt Nam, nhất là các tầng lớp trí thức.

Một tổ chức đối lập, muốn có sức mạnh và uy tín để tập hợp quần chúng thì bắt buộc phải có một gương mặt "lãnh đạo". Vai trò và sứ mệnh của một người lãnh đạo quốc gia hay tổ chức đối lập có uy tín là gì?

Người viết đã trình bày trong bài viết trước (Chân dung một con người): Vai trò của một lãnh tụ hay người lãnh đạo quốc gia gồm hai phần: một là, có những quyết định đúng đắn và kịp thời trong việc điều hành quốc gia và sau đó tạo điều kiện để thực hiện tốt những việc này. Hai là, thể hiện và tăng cường những giá trị đạo đức nền tảng của xã hội (như sự lương thiện, sự liên đới, sự dấn thân, sự chăm chỉ, sự tận tụy, sự trang nhã, sự cố gắng vì lợi ích chung, sự tương kính, sự ứng xử có văn hoá v.v.). Trong hai vai trò trên thì vai trò thứ hai quan trọng hơn vai trò thứ nhất.

Một câu hỏi vẫn chưa có câu trả lời: Ai xứng đáng là người lãnh đạo của đối lập dân chủ? Nếu không giải được bài toán này thì những bế tắc hiện nay của Việt Nam sẽ không có lối thoát.

Ở hải ngoại, theo thiển ý, người xứng đáng nhất có lẽ là ông Nguyễn Gia Kiểng, người lãnh đạo Tập Hợp Dân Chủ Ða Nguyên. Mặc dù tài năng và sự uyên bác của ông Nguyễn Gia Kiểng là một sự thật không thể chối cãi, nhưng vẫn có nhiều người không đồng ý với lựa chọn này. Ðiều này cũng không có gì là lạ đối với truyền thống và văn hóa Khổng giáo của văn hóa Việt Nam: đất nước là tài sản của nhà vua, ngày nay là tài sản của đảng cộng sản. Để duy trì sự thần phục của các thuộc hạ, ban lãnh đạo đảng cộng sản sử dụng cụm từ "quyền sở hữu toàn dân" để ban phát đất đai cho những kẻ có công bảo vệ chế độ, và chống lại mọi hình thức tuyển chọn người có khả năng quản trị đất nước qua bầu cử tự do, hay phổ thông đầu phiếu.

Một gương mặt khác tại Việt Nam mà người viết thấy hội tụ đủ mọi điều kiện để lãnh đạo phong trào đối lập, đó là ông Vi Ðức Hồi, người vẫn đang thụ án trong nhà tù. Xuất thân từ bộ máy nhà nước, ông Vi Đức Hồi là cựu giám đốc trường đảng huyện Hữu Lũng, Lạng Sơn. Ông là một người có học thức, có tri thức, dũng cảm, dám dấn thân và biết tìm đến để kết hợp với những người dân chủ khác. Nổi bật nhất trong con người của ông Vi Ðức Hồi là một nhân cách lớn. Ðây là yếu tố quyết định để chọn lựa một người lãnh đạo Việt Nam trong tương lai.

Người dân Việt nam muốn đổi đời, trí thức Việt Nam muốn thay đổi hiện tại tồi dở  thì hãy ủng hộ ông Vi Ðức Hồi. Đảng cộng sản Việt Nam muốn hạ cánh an toàn, muốn quyền lợi của mình được đảm bảo và để đất nước không đổ vỡ thì hãy tìm đến ông Vi Ðức Hồi và cùng ông tìm giải pháp phục hồi đất nước. Ðây là tất cả những gì mà giới lãnh đạo cộng sản  có thể làm và nên làm, dù đã hơi muộn.

Theo: Thông luận



Theo dỏi tỷ giá đồng Việt Nam