“Cuộc chiến mới” của Việt Nam và Trung Quốc
AFP PHOTO. Quân đội Việt Nam tại cuộc chiến biên giới Việt Trung năm 1979, ảnh chụp hôm 23-02-1979.
Quỳnh Chi - RFA
-
Chỉ có điểm khác biệt: đây dường như là cuộc chiến không tiếng súng.
Mời quý vị nghe Quỳnh Chi tổng hợp và tường trình.
Bắc Kinh giận dữ
Một đội tàu tuần tra Trung Quốc vừa đến khu rạn san hô và đảo ở trung tâm Trường Sa để thực hiện quan sát gần; sau khi đến đảo Đá Châu Viên (tức Cuarteron Reef thuộc Trường Sa). Tính cho đến ngày 3 tháng 7, đây là diễn biến mới nhất trong thời gian gần đây sau hàng loạt các tranh cãi gay gắt cũng như các hành động mà giới chức Hoa Kỳ gọi là “khiêu khích” từ phía Bắc Kinh.
Luật Biển Việt Nam được Quốc hội thông qua, trong bối cảnh căng thẳng biển Đông đang gia tăng mà chưa có hướng giải quyết.Và điều 1 trong luật này khẳng định rõ chủ quyền Hoàng Sa – Trường Sa của Việt Nam đã gây khó chịu cho phía Trung Quốc.
Ngay khi Luật Biển này được thông qua hôm 21 tháng 6, cùng ngày, thứ trưởng Ngoại giao Trương Chí Quân của Trung Quốc triệu đại sứ Việt Nam tại Bắc Kinh Nguyễn Văn Thơ đến nhằm phản đối Luật Biển mà nước này cho là “phi pháp”. Cùng thời điểm, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc, Hồng Lỗi cũng lên tiếng yêu cầu Việt Nam “sửa chữa sai lầm”.
Một ngày sau đó, Quốc hội Trung Quốc yêu cầu Việt Nam “sửa ngay lập tức” Luật Biển vừa được thông qua. Qua một lá thư của Ủy ban đối ngoại Đại biểu nhân dân toàn quốc Trung Quốc gởi cho Ủy ban đối ngoại Quốc hội Việt Nam, Bắc Kinh khẳng định “chủ quyền không tranh cãi” đối với Hoàng Sa và Trường Sa.
Cũng trong thời gian đó, hàng loạt các tờ báo Trung Quốc, trong đó có tờ China Daily, lên tiếng phản bác lại Luật Biển Việt Nam với những lời lẽ gay gắt đầy đe dọa. Trong số đó, bài viết nhan đề “Trò hề lố bịch” số ra hôm 25 tháng 6 ám chỉ một cách gay gắt rằng Việt Nam “chiếm cái của người khác làm của mình” và đe dọa sẽ “trả giá đắt”. Trước đó, bài viết, “Khiêu khích sẽ dẫn đến hành động đáp trả” và “Cần có biện pháp cứng rắn để bảo vệ chủ quyền ở Nam Hải” đăng trên Nhân dân Nhật báo vào tờ Văn Hối cũng có những lời lẽ mạnh bạo tương tự.
TS Đặng Đình Quý, giám đốc Học viện Ngoại giao Việt Nam trong lần phỏng vấn gần đây với đài RFA đã nói về hoạt động của Trung Quốc như sau:
“Nó căng thẳng hơn vì những hoạt động của họ nghiêm trọng hơn trước. Đó là hành động tiến thêm một bước nữa trong việc khẳng định chủ quyền ở khu vực đường lưỡi bò. Đó là một hướng mà Trung Quốc làm để dần đẩy tất cả mọi người ra khỏi khu vực đường lưỡi bò”.
Hồi năm ngoái, tờ Hoàn Cầu Thời Báo cũng từng lên tiếng đe dọa các nước trong khu vực “chuẩn bị nghe tiếng đại bác”. Việc giới chức, học giả và các cơ quan truyền thông của Trung Quốc theo xu hướng chủ nghĩa dân tộc dùng những lời mạnh bạo nhằm chỉ trích các nước khác không còn là một điều lạ, nhất là khi Trung Quốc càng thể hiện rõ quyết tâm trong vấn đề biển Đông thời gian gần đây. Tuy nhiên, một loạt những hành động không chỉ bằng lời nói từ phía Trung Quốc cho thấy nước này sẵn sàng tiến bất cứ bước nào có thể trong cuộc tranh giành chủ quyền tại biển Đông, nơi mà cho đến bây giờ, Trung Quốc vẫn còn tỏ ra khá mập mờ trong việc xác định vùng tranh chấp.
Ngay sau khi Luật Biển Việt Nam ra đời, lần đầu tiên Trung Quốc lên tiếng xác nhận việc thành lập thành phố cấp địa khu Tam Sa, bao gồm Tây Sa (Hoàng Sa), Nam Sa (Trường Sa) và Trung Sa. Đây là lần đầu tiên Trung Quốc lên tiếng xác nhận tin này, sau khi nhiều lần phủ nhận từ năm 2007 vì gặp phải sự phản đối quyết liệt của người Việt Nam.
Cũng trong hành động mà nước này gọi là nỗ lực bảo vệ chủ quyền ở biển Đông, giới hữu trách Hải Nam cũng lên tiếng xác nhận vào cuối tháng 8 này, sẽ phủ sóng phát thanh và phát hình toàn bộ khu Tam Sa.
Giới nghiên cứu biển Đông cũng không lấy gì làm ngạc nhiên nhưng lần này họ làm một cách trắng trợn. Nhà nghiên cứu biển Đông Đinh Kim Phúc
Trong khi đó, ông Cảnh Nhạn Sinh, phát ngôn viên Bộ Quốc phòng Trung Quốc hôm 28 tháng 6 cũng cho biết nước này sẽ nghiên cứu đến việc đặt cơ quan quân sự tại Tam Sa, đồng thời phản đối những chuyến bay tuần tra của Việt Nam tại khu vực này. Chỉ hai ngày trước đó, một nhóm tàu tuần tra gồm 4 tàu hải giám của Trung Quốc mang số hiệu 83, 84, 66 và 71 và hàng chục trực thăng cũng được điều vào biển Đông.
Hàng loạt hành động từ phía Trung Quốc diễn ra trong cùng một thời điểm rất ngắn không che lấp được sự tức giận của phía Trung Quốc đối với Luật Biển Việt Nam. Tuy nhiên, có lẽ sự việc “khiêu khích” lên đến đỉnh điểm nhất cho tới giờ phút này là việc Bắc Kinh kêu gọi đấu thầu khai thác dầu khí tại 9 lô ở biển Đông, trong đó các các lô chồng lấn với vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam.
Chín lô dầu khí mà Tổng công ty Dầu khí Hải Dương Trung Quốc (CNOOC) hôm 23 tháng 6 kêu gọi mời thầu được cho biết cách đảo Phú Quý (Bình Thuận) chừng hơn 30 hải lý và cách Nha Trang chưa đến 60 hải lý; nghĩa là nằm trong vùng tài phán của Việt Nam. Chín lô này có các lô chồng lấn với Việt Nam từ lô 128 đến 132 và lô 145 đến 156, là nơi mà Petro Việt Nam đã có các hoạt động thăm dò từ trước.
Nhà nghiên cứu biển Đông Đinh Kim Phúc nhận xét:
“Giới nghiên cứu biển Đông cũng không lấy gì làm ngạc nhiên nhưng lần này họ làm một cách trắng trợn. Hành động của Trung Quốc cho thấy tham vọng độc chiếm biển Đông là không bao giờ từ bỏ. Nó cũng là hồi chuông cảnh báo cho những ai vẫn còn ảo tưởng về cái gọi là “sự trỗi dậy hòa bình của Trung Quốc”.
Hà Nội đáp trả
Việc Trung Quốc gay gắt trả đũa lại Luật Biển Việt Nam có lẽ không nằm ngoài suy đoán của nhiều người; tuy nhiên, cái mà người ta dường như không dự đoán được là phản ứng đáp trả kiểu “ăn miếng trả miếng” từ phía Việt Nam.
Ngay sau khi Trung Quốc triệu đại sứ phản đối Luật Biển, cùng ngày, người phát ngôn bộ Ngoại giao Việt Nam, ông Lương Thanh Nghị đáp trả rằng việc thông qua Luật Biển Việt Nam là “hoạt động lập pháp bình thường” và cho rằng "Đáng tiếc là Trung Quốc đã có những chỉ trích vô lý đối với việc làm chính đáng của Việt Nam”.
Người phát ngôn của cơ quan ngoại giao Việt Nam hôm 26 tháng 6 cũng lên tiếng yêu cầu Trung Quốc hủy bỏ hành động kêu gọi thăm dò dầu khí mà ông gọi là “phi pháp”. Ông Lương Thanh Nghị cũng không quên nhắc nhở phía Trung Quốc tôn trọng Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam – Trung Quốc. Đây là thỏa thuận được ký giữa Tổng bí thư ĐCSVN và Tổng bí thư ĐCSTQ hồi tháng 10 năm ngoái, trong đó hai đảng khẳng định “Căn cứ chế độ pháp lý và nguyên tắc được xác định bởi luật pháp quốc tế trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982”. Mạnh dạn hơn, bộ Ngoại giao Việt Nam hồi cuối tháng cũng đã trao công hàm cho đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội nhằm phản đối hành động kêu gọi thăm dò dầu khí trên.
Trong khi đó, lãnh đạo thành phố tỉnh Khánh Hòa và Đà Nẵng, yêu cầu Bắc Kinh hủy bỏ kế hoạch thành lập thành phố Tam Sa và gọi đây là hành động phi pháp.
Nhà nghiên cứu biển Đông Đinh Kim Phúc nhận xét về phản ứng của phía Việt Nam như sau:
“Phản ứng của Việt Nam trong thời gian vừa qua là vừa phải, có sự nhân nhượng để bảo đảm vấn đề ổn định và phát triển đất nước. Nhưng đối với dã tâm của Trung Quốc thì nhân nhượng phải có chừng mực chứ không thể mềm yếu trước thái độ hung hăng của Trung Quốc”.
Phản ứng của Việt Nam trong thời gian vừa qua là vừa phải, có sự nhân nhượng để bảo đảm vấn đề ổn định và phát triển đất nước. Nhà nghiên cứu biển Đông Đinh Kim Phúc
Nếu các học giả hay giới truyền thông Trung Quốc đồng loạt lên tiếng chỉ trích Luật Biển Việt Nam nhưng không đưa ra căn cứ để chứng minh cho cái gọi là “chủ quyền không thể tranh cãi” của mình thì truyền thông, giới học giả và các công ty Việt Nam cũng phản bác lại lập luận của Trung Quốc với lời lẽ không quá gay gắt nhưng khá cứng rắn.
Đáp trả lại hành động kêu gọi mời thầu tại 9 lô chồng lấn với Việt Nam, Petro Việt Nam đã tổ chức buổi họp báo hôm 27 tháng 6 nhằm phản đối việc này; cho đây là “việc làm sai trái, không có giá trị, trái với công ước Liên Hiệp Quốc 1982 về Luật Biển và không phù hợp với thông lệ dầu khí quốc tế”. Tổng giám đốc Tập đoàn Dầu khí - Đỗ Văn Hậu còn tuyên bố “trong trường hợp phía Trung Quốc hoặc doanh nghiệp trúng thầu cố tình phớt lờ ý kiến của Việt Nam, PVN vẫn sẽ phản đối đến cùng”.
Cùng thời điểm, Luật sư đoàn Việt Nam, Hội luật gia Việt Nam cũng lên tiếng và có nhiều bài phân tích về tính phi pháp của việc mời thầu ngày 23 tháng 6 của Tổng công ty Dầu khí Hải Dương Trung Quốc. Theo đó, Trung Quốc đã vi phạm điều 58, 76 và 77 của Công ước LHQ về Luật Biển 1982 mà Trung Quốc là một trong khoảng 150 nước thành viên.
Trong khi đó, giới quan sát cũng bắt đầu để ý đến những phát biểu khẳng định chủ quyền lãnh thổ trong các cuộc tiếp xúc cử tri hôm cuối tháng của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Tổng bí thư ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng. Nhưng có lẽ hành động quyết tâm nhất vẫn là cuộc tuần hành phản đối Trung Quốc và ủng hộ Luật Biển Việt Nam của ít nhất 500 người dân Hà Nội và Sài Gòn hôm 1 tháng 7. Bất kể mức độ thành công của cuộc tuần hành đến mức nào và mức độ người dân tham gia ra sao, nó cũng nói lên được rằng không dễ để một đất nước từ bỏ chủ quyền của mình.
Mặc dù ít được truyền thông trong nước nhắc đến nhưng máu xương của những người đã ngã xuống trong các cuộc chiến gần đây với Trung Quốc vào năm 1974, năm 1979 và 1988 không thể nào được xem như chưa bao giờ xảy ra. Việt Nam và Trung Quốc cũng đang bước vào một cuộc chiến tuy không tiếng súng nhưng không kém quan trọng. Dấu ấn sau mỗi cuộc chiến, kể cả cuộc chiến không tiếng súng, thì ngoài kết quả cuối cùng còn có việc người ta chiến đấu như thế nào. Và lịch sử luôn đón chào những cuộc chiến mà trong đó, người ta bảo vệ những gì thuộc về mình.
Cập nhật lúc : Chủ Nhật, tháng 7 08, 2012
Hết rồi nhé, giấc mơ đắng chát. Nhìn lại đi, đời thực chua cay
Cập nhật lúc : Thứ Ba, tháng 7 03, 2012
Trung Quốc phản ứng trước các cuộc biểu tình ở Việt Nam
Người biểu tình cầm biểu ngữ chống Trung Quốc tuần hành qua đường phố Hà Nội, ngày 1/7/2012
Trà Mi-VOA
-
02.07.2012
Tân Hoa xã dẫn lời người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc, Lưu Vị Dân, tại cuộc họp báo ngày 2/7 nhấn mạnh rằng Bắc Kinh phản đối hành động của các nước gây căng thẳng và làm phức tạp thêm tình hình tranh chấp ở Biển Đông.
Vẫn theo lời ông Lưu, Trung Quốc luôn coi trọng tình hữu nghị và sự hợp tác với Việt Nam và Bắc Kinh sẵn sàng giải quyết thỏa đáng các tranh chấp theo đúng những gì lãnh đạo hai nước Việt-Trung đã nhất trí.
Hôm 1/7, hàng trăm người Việt Nam tại hai thành phố lớn ở Sài Gòn và Hà Nội đã xuống đường để bày tỏ thái độ phản đối các hành động mới đây của Trung Quốc xâm phạm chủ quyền Việt Nam trên Biển Đông và ủng hộ Luật Biển Việt Nam vừa được Quốc hội thông qua.
Dù không bị trấn áp mạnh tay như các cuộc tuần hành tương tự hồi năm ngoái, nhưng nhiều người từng tham gia biểu tình chống Trung Quốc trước đây đã bị lực lượng an ninh sách nhiễu và ngăn cản không cho họ xuống đường lần này. Cô Trịnh Kim Tiến, một gương mặt được nhiều người biết đến từ các cuộc biểu tình chống Trung Quốc, là một người trong số đó. Tiến cho biết:
“Hôm qua (1/7) em ở trong Sài Gòn. Em ra nhà thờ Đức Bà để tham gia biểu tình, em bị giữ trên đó và họ buộc em phải quay về. Và em tự biểu tình tại nhà luôn. Một số người khác sau khi tham gia biểu tình bị họ bắt nguội. Có một bạn tên Châu Văn Thi chỉ vì mang máy hình trên đường mà bị họ bắt giữ từ sáng hôm qua, bị giam hơn 24 tiếng. Tới trưa hôm nay (2/7) họ mới thả bạn ấy ra.”
Trong số những người bị bắt về đồn công an trong cuộc tuần hành ngày 1/7 tại Sài Gòn có blogger Huỳnh Thục Vy. Cô thuật lại:
“Ngày 1/7 tôi và năm anh chị em trong nhà xuống đường theo lời kêu gọi của mọi người. Lúc đầu mình tời nhà thờ Đức Bà, rồi qua công viên 30/4. Sau đó, nhóm tăng lên mấy chục người. An ninh đứng đầy công viên, bất thần họ ập tới đạp tất cả anh chị em mình vào xe 16 chỗ ngồi. Chúng mình cố vươn ra ngoài hét to lên rằng “Hoàng Sa-Trường Sa của Việt Nam”. Sau đó, người ta bắt mình và chồng mình về công an phường Cô Giang. Em trai mình bị họ bóp cổ, bẻ tay, và bị đánh rất nhiều. Chồng mình cũng bị đánh rất nhiều. Họ bắt về làm việc suốt 12 tiếng đồng hồ. Cuối cùng họ ra quyết định thông báo miệng rằng chúng mình đã gây rối trật tự công cộng và xử phạt riêng mình 1,5 triệu. Có rất nhiều người biểu tình khác cũng bị bắt. Nhiều người khác đã bị ngăn cản ở nhà, những người đã từng đi biểu tình yêu nước trước đây như Bùi Hằng cũng đã bị giữ ở nhà, không thể đi biểu tình được.”
Những người biểu tình nói đây là cuộc tuần hành tự phát, không có người lãnh đạo và cũng không bị ai xúi giục, tất cả đều xuất phát từ sự tự nguyện và tấm lòng yêu nước, bức xúc trước các hành động ngang ngược của Trung Quốc.
Tổ chức bảo vệ nhân quyền Human Rights Watch lên án việc chính quyền Việt Nam cản trở công dân tham gia các cuộc tuần hành ôn hòa chống Trung Quốc là vi phạm quyền tự do bày tỏ quan điểm. Ông Phil Robertson, Phó giám đốc phụ trách khu vực Châu Á thuộc Human Rights Watch, phát biểu với VOA Việt ngữ:
“Hành động của an ninh Việt Nam chống lại các cuộc tuần hành bài Trung Quốc một lần nữa chứng tỏ chính quyền Việt Nam luôn sách nhiễu bất kỳ hình thức phản kháng ôn hòa nào của công chúng bất kể nguyên nhân hay vấn đề nào. Thật đáng mỉa mai là ngay cả hành động bày tỏ sự ủng hộ chính sách của nhà nước đối với Trung Quốc cũng bị công an gây áp lực, trong đó có việc hăm dọa và cấm cản các nhà hoạt động, và thậm chí là bắt giữ tùy tiện như trường hợp của bà Bùi Minh Hằng hay blogger Huỳnh Thục Vy, hầu ngăn không cho họ đi tuần hành chống Trung Quốc. Những hành vi này cho thấy Việt Nam vẫn tiếp tục vi phạm nhân quyền căn bản của công dân.”
Lời kêu gọi tuần hành phản đối Trung Quốc trước tòa đại sứ và lãnh sự quán của Bắc Kinh ở Hà Nội và Sài Gòn ngày 1/7 được lan truyền trên các trang mạng xã hội sau khi Trung Quốc loan báo thành lập thành phố Tam Sa quản lý cả hai quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa của Việt Nam và cho mời thầu thăm dò 9 lô dầu khí hoàn toàn nằm trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa của Việt Nam.
Hơn chục cuộc tuần hành chống Trung Quốc hồi mùa hè năm ngoái ở Sài Gòn và Hà Nội đã bị an ninh trấn áp mạnh tay, khiến công luận bất bình.
Cập nhật lúc : Thứ Ba, tháng 7 03, 2012
Trung Quốc mạnh mẽ chống lại Luật Biển của Việt Nam
RFA. Khu vự lãnh hải tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc.
RFA
22-06-2012
Tân hoa xã loan tin Ủy ban đối ngoại của quốc hội Trung Quốc đã gửi cho ủy ban đối ngoại quốc hội Việt Nam lá thư bày tỏ quan điểm của phía Trung Quốc về Luật Biển của Việt Nam.
Nội dung lá thư đưa ra phản đối cho rằng việc thông qua luật biển của quốc hội Việt Nam đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Trung Quốc, vi phạm nguyên tắc đồng thuận mà lãnh đạo của hai phía đã đạt được cũng như vi phạm các nguyên tắc của Tuyên bố ứng xử tại Biển Đông.
Những phát biểu của quốc hội Trung Quốc tương tự điều mà Bộ Ngoại giao của chính quyền Bắc Kinh đưa ra sau khi Quốc hội Việt nam thông qua Luật Biển vào ngày 21 tháng 6 vừa qua.
Như tin đã loan, Bộ Ngoại giao Việt Nam hôm qua cũng đã lên tiếng bác bỏ những chỉ trích của Trung Quốc đối với việc thông qua Luật Biển của Quốc hội Việt Nam.
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam, ông Lương Thanh Nghị, cho rằng những chỉ trích đó là vô lý.
Việt Nam lập luận rằng việc thông qua Luật Biển của quốc hội là một hoạt động lập pháp bình thường nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý của Việt Nam. Hoạt động đó nhằm phục vụ việc sử dụng, quản lý, bảo vệ vùng biển, đảo và phát triển kinh tế biển của Việt Nam.
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam khẳng định là Việt Nam có đầy đủ cơ sở pháp lý chứng minh chủ quyền tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Bộ Ngoại giao Việt Nam hôm qua cũng lên tiếng chỉ trích việc Trung Quốc đã phê chuẩn thành lập cái gọi là ‘thành phố Tam Sa’ với phạm vi quản lý cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam khẳng định là Việt Nam có đầy đủ cơ sở pháp lý chứng minh chủ quyền tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Hiện có sáu nước tuyên bố chủ quyền tại khu vực Biển Đông gồm Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam, Philippines, Malaysia và Brunei.
Cập nhật lúc : Chủ Nhật, tháng 6 24, 2012
Phỏng vấn ĐB QH Dương Trung Quốc về Luật Biển Việt Nam
EyePress News. Thủy thủ Việt Nam trên đảo Phan Vinh trong quần đảo Trường Sa.
Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2012-06-23
Mặc Lâm phỏng vấn Đại biểu Quốc Hội Dương Trung Quốc để biết thêm chi tiết về quyết định được xem là quan trọng này.
Phải có
Mặc Lâm: Xin ông cho biết Luật Biển được Quốc Hội đưa ra trong thời điểm này có do một yếu tố nào không, hay là đã có quy định trước là sẽ được thông qua vào ngày hôm nay không, thưa ông?
Hơn thế nữa, Việt Nam đã tham gia vào UNCLOS 1982 rồi vì thế việc ra Luật Biển càng sớm càng tốt và cũng là mong ước của người dân cũng như mong muốn của Quốc Hội. ĐB QH Dương Trung Quốc
Ông Dương Trung Quốc: Là người theo dõi hoạt động của Quốc Hội và tôi được biết rằng Luật Biển được chuẩn bị rất lâu rồi, bởi vì ta đã biết Việt Nam là quốc gia có 3.200 cây số bờ biển, rất nhiều đảo và hải đảo, và quần đảo, mà chưa có luật thì hơi vô lý. Hơn thế nữa, Việt Nam đã tham gia vào UNCLOS 1982 rồi vì thế việc ra Luật Biển càng sớm càng tốt và cũng là mong ước của người dân cũng như mong muốn của Quốc Hội.
Luật Biển không chỉ đáp ứng yêu cầu về vấn đề bảo vệ chủ quyền mà ngay cả vấn đề muốn phát triển kinh tế biển thì cũng phải có hành lang pháp lý. Có thể nói rằng tôi đã chứng kiến nhiều lần và cá nhân mình cũng đã nhiều lần đề nghị Quốc Hội sớm thông qua. Tuy thông báo chính thức cho biết việc chuẩn bị chưa thật chu đáo, nhưng ở thời điểm này tôi nghĩ kỳ họp trước thì đã thảo luận rồi, kỳ họp này thông qua thì nó là quy trình bắt buộc và cho ra vào thời điểm này là thích hợp mặc dù cá nhân tôi cho rằng hơi muộn.
Hòa hiếu
Mặc Lâm: Thưa ông, sau khi Luật Biển vừa thông qua thì Trung Quốc ngay lập tức đã đưa ra những lời lẽ rất cứng rắn để chống lại và thậm chí họ còn triệu tập Đại Sứ VN ở Bắc Kinh lên để phản đối. Là một đại biểu quốc hội, ông thấy trước hành động này của Trung Quốc thì Việt Nam có nên đề phòng những điều có thể xảy ra hay không?
Ông Dương Trung Quốc: Cá nhân tôi và chắc nhiều đại biểu quốc hội cũng nghĩ rằng thế nào Trung Quốc cũng phản ứng, tức là mình cũng đã nghĩ trước điều đó, nhưng tôi cho rằng chuyện đó là bình thường. Việt Nam thể hiện chủ quyền của mình thì thực ra quan điểm đó đã rất lâu, kể cả các phát ngôn chính thức trên trường quốc tế cũng như là đã đăng ký với Liên Hiệp Quốc, chả có gì mới cả. Còn việc làm luật thì quốc gia nào cũng phải làm luật cho quốc gia mình, đó là chuyện rất là đương nhiên.
Phản ứng của Trung Quốc dẫu sao cũng phản ảnh một thái độ chung của Trung Quốc đối với vấn đề chủ quyền trên Biển Đông chứ không phải chỉ riêng gì Việt Nam và nhiều quốc gia khác. Trên cơ sở khẳng định chủ quyền của mình trong Luật Biển Việt Nam có nói nếu nơi nào có tranh chấp thì Việt Nam cũng sẽ sẵn sàng với tinh thần thực hiện những cam kết quốc tế, nhất là Công Ước về Luật Biển của LHQ (UNCLOS), và trên một tinh thần là vẫn thương thảo một cách hòa bình. Tôi nghĩ đấy là nguyên tắc mà Việt Nam sẽ ứng xử với Trung Quốc trong cả một tiến trình chứ không chỉ riêng chuyện phản ứng của Trung Quốc đối với việc thông qua luật này.
Trên cơ sở khẳng định chủ quyền của mình trong Luật Biển Việt Nam có nói nếu nơi nào có tranh chấp thì Việt Nam cũng sẽ sẵn sàng với tinh thần thực hiện những cam kết quốc tế, nhất là Công Ước về Luật Biển của LHQ (UNCLOS), và trên một tinh thần là vẫn thương thảo một cách hòa bình.
ĐB QH Dương Trung Quốc
Mặc Lâm: Sau khi Luật Biển ra đời thì cũng có rất nhiều dư luận, đặc biệt là dư luận quốc tế cho rằng khi Hoa Kỳ bắt đầu trở lại và nói chuyện với Việt Nam đã khiến cho Việt Nam mạnh dạn hơn trong vấn đề đưa ra luật này. Thưa ông, là đại biểu quốc hội thì ông có đồng tình với những nhận định như vậy không ạ?
Ông Dương Trung Quốc: Có thể vì sự liên tưởng sắp xếp lại nhiều hiện tượng khác nhau khiến người ta nghĩ đến chuyện đó, nhưng tôi nghĩ điều đó nếu có thì chỉ là một hoàn cảnh cụ thể thôi, còn việc Việt Nam phải có luật biển thì rõ ràng là một nhu cầu bức thiết. Xin nhắc lại rằng không chỉ vấn đề liên quan đến chủ quyền quốc gia mà nó liên quan đến cả nhu cầu phát triển, nhất là khi Việt Nam càng ngày càng khẳng định kinh tế biển đã, đang và sẽ trở thành một nguồn lực to lớn trong sự phát triển của Việt Nam.
Trong khi thảo luận tại Quốc Hội tôi cũng thấy thái độ của Việt Nam rất thiện chí, trên tinh thần nếu có tranh chấp thì phải thương lượng một cách hòa bình. Đương nhiên là mỗi quốc gia đều có quyền bảo vệ lãnh thổ của mình. Hai nữa Việt Nam luôn luôn quan tâm đến những cam kết quốc tế. Tôi lấy thí dụ khi thảo luận về khoản đối với tàu quân sự các nước đi ngang qua lãnh hải của mình nếu không gây tác hại gì cả thì ta yêu cầu họ phải xin phép hay chỉ cần thông báo thôi? Cuối cũng tất cả đại biểu quốc hội đều phản ảnh là chỉ cần thông báo. Điều này đã thể hiện Việt Nam hoàn toàn muốn tạo những điều kiện thuận lợi và góp phần vào việc sử dụng giao thương trên biển được thuận lợi.
Như thế có nghĩa là thái độ của Việt Nam hết sức mong sự hòa hiếu, mong tất cả các quốc gia đều phải có những cam kết chung bên cạnh việc bảo vệ chủ quyền của mình. Còn sự tranh chấp về chủ quyền thì chắc chắn nếu có xảy ra thì phải thương thảo, phải thảo luận.
Mặc Lâm: Có một điều là chính quyền Trung Quốc sau khi Việt Nam thông qua Luật Biển thì họ lại nâng cấp quy chế hành chính của 3 quần đảo Tây Sa, Trung Sa và Nam Sa ở Biển Đông từ cấp huyện lên cấp quận. Thưa ông, là đại biểu quốc hội ông có nhận thấy vấn đề này có vẻ càng ngày càng nóng lên và nghiêm trọng hơn thì trong Quốc Hội kỳ tới sẽ có thêm những điều khoản nào nữa thêm vào Luật Biển của mình nữa hay không?
Ông Dương Trung Quốc: Tôi nghĩ rằng Luật Biển đã được thông qua rồi thì chắc việc bổ sung thêm không phải là chuyện làm ngay được, nhưng nó sẽ được cụ thể hóa trong việc thực thi Luật Biển với tất cả các văn bản dưới luật sẽ được ban hành trên cả hai phương diện là phương diện bảo vệ chủ quyền và phương diện phát triển kinh tế biển. Cho nên việc phản ứng của Trung Quốc là việc họ làm, còn Việt Nam cũng kiên trì quan điểm của mình, và trên cơ sở đó Việt Nam cũng sẽ thực thi những quyền mà luật pháp cho phép, và tôi xin nhắc lại là Việt Nam luôn luôn tôn trọng những cam kết quốc tế.
Mặc Lâm: Vâng. Thưa đại biểu quốc hội Dương Trung Quốc, xin cảm ơn ông rất là nhiều về những phát biểu của ông hôm nay.
Ông Dương Trung Quốc: Dạ, cảm ơn ông.
Cập nhật lúc : Chủ Nhật, tháng 6 24, 2012
Luật biển của Việt Nam làm Trung Quốc nổi đóa
Quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam được chú thích là Xisha (Tây Sa) của Trung Quốc.
Tú Anh
- Hôm qua, ngay sau khi Quốc hội Việt nam thông qua Luật biển, bộ Ngoại giao Trung Quốc triệu đại sứ Việt Nam tới nghe phản đối. Theo giới phân tích, pha biểu diễn « cơn thịnh nộ của thiên triều » không dọa được dân chúng Việt Nam, mà còn cho thấy Bắc Kinh e dè pháp lý, một nhược điểm của kẻ chỉ biết dùng sức mạnh.
Theo phân tích của nhật báo Mỹ The New York Times, trong một « pha biểu diễn quyết tâm » đối đầu với mọi tranh chấp tại « Nam Hải », Trung Quốc đã đả kích một cách mạnh mẽ Việt Nam thông qua Luật biển khẳng định chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Ngay sau khi Luật biển được Quốc hội Việt Nam thông qua, đại sứ Nguyễn Văn Thơ tại Bắc Kinh đã bị bộ ngoại giao Trung Quốc triệu mời nghe phản đối « luật biển Việt Nam tuyên bố chủ quyền tại Tây Sa và Nam Sa là một sự vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Trung Quốc » và « Trung Quốc cực lực chống lại ».
Đây là lần đầu tiên Việt Nam trang bị cho mình một vũ khí pháp lý bảo vệ biển đảo sau khi Hoàng Sa bị Trung Quốc đánh chiếm vào năm 1974 lúc đất nước phân đôi và một phần Trường Sa bị rơi vào tay Trung Quốc năm 1988.
Dự luật này đã bị dời đi dời lại nhiều năm liền trước khi bất ngờ được biểu quyết hôm qua 21/06/2012. Trong những ngày qua, giới thạo tin tại Hà Nội còn báo động là Bắc Kinh gây sức ép để ngăn chận.
Thái độ giận dữ của Trung Quốc được biểu lộ hai tuần trước khi diễn ra hội nghị cấp ngoại trưởng của Hiệp Hội Asean tại Phom Penh, mà trong đó có sự tham dự của ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton. Theo New York Times, hồ sơ tranh chấp biển Đông sẽ là một chủ đề trong chương trình nghị sự.
Bắc Kinh cũng gấp rút ban hành một số biện pháp hành chánh trong mưu toan đặt quốc tế và các nước láng giềng trước sự đã rồi : tuyên bố nâng cấp địa bàn gồm Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam ( mà Trung Quốc gọi là Tây Sa và Nam Sa) và đảo Macclesfield Bank của Philippines ( mà Trung Quốc gọi là Trung Sa ), thành « Địa cấp Tam sa thị », lớn hơn huyện nhưng nhỏ hơn tỉnh.
Cũng trong kế hoạch biến Biển Đông thành ao nhà, Trung Quốc tiếp tục duy trì tàu ngư chính và tàu đánh cá bên ngoài vùng bãi đá ngầm Scarborough của Philippines, sau hơn hai tháng biểu dương sức mạnh.
Theo nhận định của New York Times, hội nghị diễn đàn an ninh khu vực tại Phnom Penh trong hai tuần tới sẽ mở ra trong bối cảnh căng thẳng tại Biển Đông và tranh giành ảnh hưởng giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc. Trong bối cảnh này, chưa rõ Việt Nam và Philippines sẽ được Hoa Kỳ hậu thuẩn cụ thể ra sao. Nhưng Việt Nam đã chủ động đặt Trung Quốc « trước sự đã rồi », khẳng định chủ quyền biển đảo bằng một đạo luật quốc gia.
Cũng chưa biết là quân đội Việt Nam sẽ bảo vệ ngư dân và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam đến đâu, nhưng ít ra những người có trách nhiệm cầm súng bảo vệ quốc gia hay đàm phán trên bàn hội nghị kể từ nay có trong tay những cơ sở pháp lý.
Trong vấn đề biển Đông, khi nói đến pháp lý, Bắc Kinh hoàn toàn không đưa ra được một chứng cứ nào để khẳng định Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Quốc.Có lẽ đây là lý do khiến cho Bắc Kinh « nổi cơn thịnh nộ » và de dọa chống lại luật biển của Việt Nam một cách kịch liệt.
Đối với người dân Việt Nam, nhất là những người quan tâm đến sự tồn vong của đất nước, lời dọa nạt của Bắc Kinh không làm họ lo sợ. Luật biển là ngọn gió làm giới thanh niên sinh viên lên tinh thần . Trên mạng « Nhật Ký Yêu Nước » đã xuất hiện lời kêu gọi biểu tình vào chủ nhật 01/07/2012 tại hai thành phố lớn Hà Nội và Sàigòn, như cách nay đúng một năm về trước.
Theo RFI
Cập nhật lúc : Thứ Bảy, tháng 6 23, 2012
Báo TQ lên án Luật Biển của Việt Nam
Luật Biển Việt Nam đã gây ra phản ứng hết sức mạnh mẽ từ Trung Quốc
BBC
-
Nhật báo China Daily đã dẫn lời một số chuyên gia Trung Quốc nhận xét rằng Luật Biển vừa được Quốc hội Việt Nam thông qua sẽ làm tổn hại nghiêm trọng đến mối quan hệ giữa hai nước.
Trong một bài báo được đăng trên trang mạng của báo này hôm thứ Sáu ngày 22/6, China Daily cho rằng Luật Biển Việt Nam đã ‘nhận vơ’ quyền tài phán đối với các hòn đảo thuộc sỡ hữu của Trung Quốc.
“Hành động của Việt Nam đã biến mối quan hệ Trung-Việt thành con tin và làm quan hệ (giữa hai nước) rất khó khăn,” China dẫn lời ông Nguyễn Tông Trạch, phó giám đốc Học viện Quan hệ Quốc tế Trung Quốc, cho biết.
Không có cơ sở pháp lý
Ông Nguyễn phân tích rằng Luật Biển này không có cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền mà Việt Nam tuyên bố với Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa).
"Hành động của Việt Nam đã biến mối quan hệ Trung-Việt thành con tin và làm quan hệ (giữa hai nước) rất khó khăn."
Luật Biển này không có cơ sở pháp lý bởi vì nó vi phạm luật pháp quốc tế, bà Cung Ảnh Xuân, chuyên gia về luật pháp quốc tế tại Đại học Ngoại giao Trung Quốc ở Bắc Kinh, nói với China Daily.
“Các luật mà Việt Nam thông qua phải phù hợp với luật pháp quốc tế,” bà Cung nhận định và nói thêm rằng điều kiện tiên quyết khi thông qua các điều luật trong nước là phải ‘tôn trọng chủ quyền của nước khác’.
Bà cũng nói rằng cơ sở pháp lý mà Việt Nam tuyên bố cũng không tồn tại theo Hiến chương Liên Hiệp Quốc.
Theo bà thì Luật Biển Việt Nam không có giá trị gì đối với Trung Quốc bởi vì phía Việt Nam đã đơn phương đánh dấu ‘cái mà họ gọi là vùng đặc quyền kinh tế’.
Nhân dân nhật báo, cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Trung Quốc, hôm 22/6 dẫn lời ông Cổ Tú Đông, một nhà nghiên cứu tại Học viện Quan hệ Quốc tế Trung Quốc, cho rằng việc Việt Nam thông qua Luật Biển đã xâm phạm chủ quyền, quyền chủ quyền và lợi ích của Trung Quốc ‘một cách trắng trợn’, làm trầm trọng thêm mâu thuẫn Trung-Việt và làm xấu đi tình hình ở Biển Đông.
“Trung Quốc nên làm cho các quốc gia hiểu rõ rằng một khu đụng chạm tới chủ quyền của Trung Quốc thì Trung Quốc sẽ bóp nghẹt không gian và thời gian xâm phạm của họ cho đến khi nào họ rút lui thì thôi,” ông Cổ nói được dẫn lời trong bài báo có nhan đề ‘Khiêu khích sẽ dẫn đến hành động đáp trả’.
Trong một bài xã luận có nhan đề ‘Cần có các biện pháp cứng rắn để bảo vệ chủ quyền ở Nam Hải’ được đăng tải hôm 22/6, tờ Văn Hối có trụ sở tại Hong Kong cho rằng ‘Trung Quốc nên có những ý tưởng cứng rắn hơn, bao gồm cả việc sử dụng vũ lực để bảo vệ quyền lợi của mình khi cần thiết để cho thấy sự quyết tâm và khả năng bảo vệ chủ quyền’.
“Đồng thời, Trung Quốc cũng đẩy nhanh các hoạt động của thành phố Tam Sa và đưa ra các chương trình phát triển và quản lý Nam Hải thực chất để cho thấy sự thực thi và bảo vệ chủ quyền,” bài báo viết.
Văn Hối cũng kêu gọi hai bờ eo biển Đài Loan cùng hợp tác để để vệ chủ quyền ở Nam Hải.
‘Thành phố Tam Sa’
Báo chí Trung Quốc cũng ca tụng và cổ động cho hành động mới đây của Quốc vụ viện nước này nâng cấp nâng cấp hành chính hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa cùng với quần đảo Trung Sa để thành lập thành phố Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam.
Tờ Tân Kinh Báo của thủ đô Bắc Kinh dẫn lời nhà bình luận Từ Lệ Phan đánh giá động thái này là ‘có lợi cho việc tạo ra một mức độ tin tưởng cao hơn và một môi trường đàm phán’ trong bài báo có nhan đề ‘Thành lập thành phố Tam Sa thể hiện rõ quyền tài phán quốc gia’ được đăng tải vào ngày 22/6.
Theo lời nhà bình luận này thì một khi ba quần đảo này được nâng cấp lên quy chế thành phố thì các công ty nước ngoài có thể trực tiếp xin giấy phép từ chính quyền thành phố để thuận tiện trong các dự án hợp tác khai thác năng lượng.
"Việc sử dụng các phương tiện pháp lý để tuyên bố chủ quyền có lẽ là động thái hung hăng đầu tiên của Việt Nam."
“Việc thành lập thành phố Tam Sa cũng là một cơ hội hợp tác mới đối với các quốc gia có tranh chấp,” bài báo viết.
Ông Độc Cơ Phong thuộc Viện nghiên cứu châu Á-Thái Bình Dương thuộc Học viên Khoa học xã hội Trung Quốc, trong cuộc phỏng vấn trên tờ Bưu điện Hoa Nam buổi sáng có trụ sở ở Hong Kong hôm 22/6 cho rằng động thái Tam Sa chỉ là sự thể hiện chủ quyền đơn thuần chứ không phải là một hành động thực chất.
“Tuy nhiên nó dọn đường cho Trung Quốc gửi thêm nhiều cán bộ đến để quản lý các quần đảo này trong tương lai,” ông nói.
“Việc sử dụng các phương tiện pháp lý để tuyên bố chủ quyền có lẽ là động thái hung hăng đầu tiên của Việt Nam,” ông này nhận định.
Cập nhật lúc : Thứ Bảy, tháng 6 23, 2012
Việt Nam đang cố vô hiệu hóa công hàm ông Phạm Văn Đồng gửi Trung Quốc
Công hàm ông Phạm Văn Đồng gửi Trung Quốc
Trân Văn - RFA
-
và cũng vì vậy, công hàm do ông Phạm Văn Đồng – Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ký ngày 14 tháng 9 năm 1958, gửi ông Chu Ân Lai – Thủ tướng Trung Quốc, thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc trên biển Đông, không có chút giá trị nào về mặt luật pháp quốc tế.
Đây là lần đầu tiên, một trang web thuộc chính quyền Việt Nam nêu chính kiến theo hướng này. Vì sao? Trân Văn – thông tín viên của Đài chúng tôi đã phỏng vấn ông Dương Danh Huy - một tiến sĩ đang sống tại Anh, thành viên sáng lập Qũy Nghiên cứu biển Đông – và cũng là người đã từng khuyến nghị chính quyền Việt Nam nên làm như thế, để tìm câu trả lời.
Thể diện chính quyền phải nhường chỗ cho chủ quyền quốc gia
Trân Văn: Thưa ông, trong các cuộc tranh luận kéo dài suốt nhiều năm qua về chủ quyền trên biển Đông, tuy Trung Quốc luôn dùng công hàm do ông Phạm Văn Đồng ký hồi 1958 như một trong những bằng chứng để chứng minh rằng, Việt Nam đã chính thức thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, song gần như chưa bao giờ chính quyền Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam – hậu thân của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nêu quan điểm của họ về công hàm đó.
Cũng vì vậy, việc trang web của Chương trình Nghiên cứu biển Đông, thuộc Học Viện Ngoại giao Việt Nam, đăng một bài viết xác nhận sự tồn tại của công hàm này, cũng như phân tích về giá trị của công hàm đó rõ ràng là một sự kiện rất đáng chú ý.
Là một người chuyên nghiên cứu, theo dõi và phân tích các sự kiện liên quan đến tranh chấp chủ quyền ở biển Đông, ông nghĩ thế nào về sự kiện vừa xảy ra ấy?
Tiến sĩ Dương Danh Huy: Trong tranh chấp Hoàng Sa – Trường Sa (HSTS), Trung Quốc mặc nhiên cho rằng Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (CHXHCN VN) là hậu thân của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VN DCCH) và chỉ của VN DCCH. Trên phương diện chính trị, có thể nói rằng, khi Việt Nam thống nhất ngày 2/7/1976 thì ý thức hệ và lãnh đạo của CHXHCN VN chủ yếu là từ VN DCCH. Nhưng trên phương diện pháp lý, thì CHXHCN VN là hậu thân của hai quốc gia: Môt quốc gia phía Bắc vĩ tuyến 17 với tên VN DCCH và một quốc gia phía Nam với tên Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam (CH MNVN) mà trước đó có tên Việt Nam Cộng Hòa (VNCH).
Trên phương diện chính trị, có thể nói rằng, khi Việt Nam thống nhất ngày 2/7/1976 thì ý thức hệ và lãnh đạo của CHXHCN VN chủ yếu là từ VN DCCH. Nhưng trên phương diện pháp lý, thì CHXHCN VN là hậu thân của hai quốc gia: Môt quốc gia phía Bắc vĩ tuyến 17 với tên VN DCCH và một quốc gia phía Nam với tên Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam mà trước đó có tên Việt Nam Cộng Hòa.
Tiến sĩ Dương Danh Huy
Đúng là cho tới gần đây truyền thông của Việt Nam tránh nói về vấn đề công hàm Phạm Văn Đồng (CH PVĐ) và tránh câu hỏi, trước khi Việt Nam thống nhất vào ngày 2/7/1976 thì phía Bắc và phía Nam vĩ tuyến 17 là mấy quốc gia (?), từ thời VNCH đến CH MNVN, có phải là một quốc gia khác biệt với VN DCCH hay không.
Tôi cho rằng việc một trang mạng thuộc chính phủ Việt Nam đăng một bài phân tích về CH PVĐ với quan điểm trước khi Việt Nam thống nhất thì phía Bắc và phía Nam vĩ tuyến 17 là hai quốc gia khác biệt, là một bước đi đúng, theo hướng “công khai, công pháp quốc tế và công luận” mà một số nhà luật học Việt Nam đã đề cập đến. Tôi hy vọng rằng việc Học viện Ngoại giao đăng bài đó, cũng như việc tạp chí Tia Sáng đăng một bản tiếng Việt vào tháng 11 năm ngoái, sẽ góp phần mở rộng thêm không gian tranh luận, phân tích công khai về CH PVĐ.
Việt Nam Cộng hòa là “lõi” của kế hoạch vô hiệu hóa
Trân Văn: Bài viết bằng tiếng Anh, mới đăng trên trang web của chương trình Nghiên cứu biển Đông thuộc Học Viện Ngoại giao Việt Nam, chỉ là bản dịch của một loạt ba bài do bà Nguyễn Thái Linh viết và đã từng được tạp chí Tia Sáng của Việt Nam, đăng hồi giữa tháng 11 năm 2011.
Sau sự kiện đó chừng một tuần, hôm 25 tháng 11 năm 2011, lần đầu tiên, một trong những viên chức cao cấp nhất của chính quyền CHXHCN VN - ông Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Việt Nam, chính thức tuyên bố tại diễn đàn Quốc hội Việt Nam, rằng chính phủ VNCH, đã từng thay mặt Việt Nam, duy trì chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa, rằng năm 1974, Trung Quốc đã dùng vũ lực cưỡng chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa từ tay chính quyền VNCH,…
Theo dõi tình hình thời sự tại Việt Nam, chúng tôi không nghĩ rằng, tuyên bố của ông Nguyễn Tấn Dũng nhắm vào mục tiêu hòa hợp, hòa giải, mà đơn thuần chỉ là chuẩn bị luận cứ, nhằm vô hiệu hóa các bằng chứng mà Trung Quốc đã, đang cũng như sẽ còn tiếp tục sử dụng để chứng minh rằng, Việt Nam đã từng chính thức thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc, đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, trong số các bằng chứng này, có công hàm mà ông Phạm Văn Đồng ký năm 1958.
Đối chiếu tuyên bố của ông Nguyễn Tấn Dũng hồi cuối năm ngoái và sự kiện trang web của chương trình Nghiên cứu biển Đông, thuộc Học Viện Ngoại giao Việt Nam, mới vừa minh định về sự hiện hữu của VNCH trong giai đoạn 1954-1975, với bài viết “Trong cuộc chiến 1954-1975, có một hay hai quốc gia trên hai miền Bắc, Nam?”, đã được ông công bố hồi giữa năm ngoái, chúng tôi có cảm giác, những khuyến nghị của ông qua bài viết ấy, đang được chính quyền Việt Nam hiện nay áp dụng để có thể ứng dụng hữu hiệu luật pháp quốc tế, vào việc bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông. Bài viết của ông rất cặn kẽ, nhiều chi tiết, trong khi thời gian cho cuộc trao đổi này lại có giới hạn, ông có thể giải thích thật ngắn gọn, nhằm giúp thính giả của chúng tôi dễ hình dung rằng, tại sao, cần phải thừa nhận, trong giai đoạn 1954-1975, Việt Nam từng có hai quốc gia riêng biệt?
Tiến sĩ Dương Danh Huy: Trước hết, tôi xin nêu quan điểm của tôi là trong thời kỳ Việt Nam chia đôi thì “Việt Nam là VN DCCH và VNCH” chứ không phải “Việt Nam chỉ là VN DCCH”.
Việc miền Bắc và miền Nam là hai quốc gia cho đến ngày 2/7/1976 là rất quan trọng cho việc phản biện Trung Quốc, vì nó có nghĩa CH PVĐ và các hành vi bất lợi khác của VN DCCH sẽ không gây phương hại cho chủ quyền đối với HSTS mà một quốc gia khác, tức là miền Nam, đang duy trì lúc đó.
Tiến sĩ Dương Danh Huy
Đúng như ông nói, có lẽ chính phủ Việt Nam cảm thấy khó có thể làm ngơ trước việc Trung Quốc đang sử dụng vấn đề CH PVĐ trong việc tuyên truyền, họ cảm thấy Việt Nam phải phản biện nhiều hơn, và họ có thể cảm thấy rằng lập luận mạnh mẽ nhất để phản biện là dựa trên các tuyên bố và hành động của VNCH về HSTS. Nhưng để dựa trên các tuyên bố và hành động của VNCH về HSTS thì phải dựa trên việc lúc đó miền Bắc và miền Nam là hai quốc gia.
Trên thực tế, chính phủ Việt Nam đã viện dẫn các tuyên bố và hành động của VNCH về HSTS từ lâu, thí dụ như trong sách trắng của Việt Nam về HSTS năm 1981. Nhưng, có lẽ trên phương diện đối nội thì họ ngại, không dám công nhận thẳng thừng là miền Bắc và miền Nam đã từng là hai quốc gia, mặc dù đó là quan điểm mà cả ba chính thể: VN DCCH, CH MNVN và CHXHCN VN đã từng đưa ra với thế giới.
Việc miền Bắc và miền Nam là hai quốc gia cho đến ngày 2/7/1976 là rất quan trọng cho việc phản biện Trung Quốc, vì nó có nghĩa CH PVĐ và các hành vi bất lợi khác của VN DCCH sẽ không gây phương hại cho chủ quyền đối với HSTS mà một quốc gia khác, tức là miền Nam, đang duy trì lúc đó.
...nếu sự thống nhất đó là VN DCCH và CH MNVN cùng đồng ý thống nhất lại thành một quốc gia thì sẽ có lợi cho Việt Nam, vì sẽ không có vấn đề gì cản trở việc CHXHCN VN, thừa kế danh nghĩa chủ quyền đối với HSTS từ quốc gia phía Nam vĩ tuyến 17, tức là VNCH hay CH MNVN.
Tiến sĩ Dương Danh Huy
Nói cách khác, nếu chính phủ Việt Nam cho rằng luôn luôn chỉ có một quốc gia, thì CH PVĐ và các hành vi bất lợi khác của VN DCCH sẽ gây phương hại cho chủ quyền Việt Nam đối với HSTS.
Ngoài ra, vấn đề không chỉ là miền Bắc và miền Nam đã từng là hai quốc gia, mà còn là cả tính cách pháp lý của sự thống nhất ngày 2/7/1976. Nếu sự thống nhất đó là VN DCCH mở rộng lãnh thổ về phía Nam, hấp thụ quốc gia phía Nam vĩ tuyến 17 thì sẽ bất lợi cho tranh cãi pháp lý về HSTS. Ngược lại, nếu sự thống nhất đó là VN DCCH và CH MNVN cùng đồng ý thống nhất lại thành một quốc gia thì sẽ có lợi cho Việt Nam, vì sẽ không có vấn đề gì cản trở việc CHXHCN VN, thừa kế danh nghĩa chủ quyền đối với HSTS từ quốc gia phía Nam vĩ tuyến 17, tức là VNCH hay CH MNVN.
Điểm cuối cùng ở đây là điểm có thể gây tranh cãi giữa người Việt. Trên phương diện chính trị, có thể có quan điểm cho rằng CHXHCN VN chính là VN DCCH đã hấp thụ miền Nam và đổi tên thành CHXHCN VN. Nhưng, trên phương diện thủ tục pháp lý, theo quan điểm của các quốc gia khác lúc đó, bao gồm cả Trung Quốc, và của các cơ quan của Liên Hiệp Quốc, thì sự kiện Việt Nam thống nhất ngày 2/7/1976 là hai quốc gia thống nhất lại thành một quốc gia mới.
Trân Văn: Xin cám ơn ông.
Copyright © 1998-2011 Radio Free Asia. All rights reserved.
Cập nhật lúc : Thứ Bảy, tháng 6 23, 2012
